Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của các giống chuối để phát hiện các biểu hiện hình thái, các hiện tượng sinh lý của cây, nhằm xác định được giai đoạn, chu kỳ sinh trưởng khác nhau của cây chuối như thân, lá, hoa, quả. Trên cơ sở đó nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, có ảnh hưởng tốt đến năng suất, chất lượng chuối. Góp phần nâng cao sản lượng chuối, tăng thu nhập cho người dân.
Đặc điểm thực vật học của cây chuối Cây chuối nằm trong họ Musaceae là một trong 8 họ trong bộ gừng Zingiberales (trước kia gọi là Csitaminales) [3]. Trong Bộ gừng, Musaceae là họ nguyên thủy nhất, chúng gồm những cây thân thảo lớn có rễ, sống lâu năm, lá mọc xoắn ốc có bẹ lá ôm lấy nhau tạo thành thân giả, phiến lá rất lớn. Cụm hoa mọc theo kiểu hoa tự bông vô hạn được hình thành ở ngọn từ thân khí sinh. Trục mang hoa và thân thật được mọc lên từ củ dưới lòng đất.
Lá bắc lớn trong chứa từ 1 - 3 hàng hoa. Những hoa ở gốc của cụm hoa là hoa cái, hoa ở giữa là hoa lưỡng tính, hoa trên cùng là hoa đực. Bao hoa gồm 2 hoặc 3 vòng nhưng tạo thành 2 cánh, cánh ngoài cùng được tạo bởi 3 đài đính liền với 2 cánh hoa và thường có mầu vàng ươm hay mầu vàng nhạt, cánh hoa trong nằm đối diện với mảnh ngoài thường ngắn, màu trong suốt và được hai mép của cánh ngoài bao phủ. Có 5 nhị, bộ nhụy, lá noãn hợp bầu dưới, quả mọng, chứa nhiều hạt tuy nhiên ở loài chuối trồng hạt thui đi rất sớm.
[3] Cheesman (1947 - 1950) [27] Bake và Simmonds (1951) [21] Simmonds (1960 [57] đã đưa ra sơ đồ giới thiệu tổng quan.1: Các đặc điểm phân loại chuối Bộ Ordo Họ Family Đặc điểm của họ Chi Genus Zingiberales Musaceae Lá và lá bắc sắp xếp hình Có 2 chi Ensete (Csitaminale xoắn ốc hoa đực, hoa cái, Musa s) hoặc hoa lưỡng tính xếp riêng rẽ trong 1 cụm hoa, quả mọng có nhiều hạt. Trelibziacea Lá và lá bắc xếp thành 2 dãy Có 3 chi e đối xứng nhau. Gân chính Strelitzia nằm song song không rõ Ravennala đường phân nhánh ngang Phenakospermun của gân, lá đài rời, hoa lưỡng tính cánh hoa ở giữa rộng hơn các phần bên, quả nang hoặc quả thịt chứa từ 1 đến 3 hạt. Heliconiace Lá và lá bắc xếp thành 2 dãy Có 1 chi ae gân phụ của lá dạng lông Heliconia chim hoặc hơi ngang, hoa lưỡng tính lá bắc rất to, dài mở rộng.
Lowiaceae Gân chính song song, gân Có 1 chi phụ được nối với gân chính Orechidantha lá đài dính nhau tạo hình ống cánh hoa giữa hẹp, có mầu sắc. Costaceae Chỉ có một nhị, bầu 3 ô Chỉ có một chi nhiều noãn Costus Zingiberace Cây có chất thơm, lá xếp Có khoảng 45 chi, 1 ae thành 2 dãy xoắn ốc. Bộ nhị số chi chính: hình cánh hoa có một bao (Globa, Zingiber, phấn 2 ô nhỏ. Alpin, Cureuma, Hedychium Marantacea Lá không có mùi thơm, Có khoảng 25 e không xếp xoắn ốc luôn tạo chi trong đó: thành 2 dãy, phiến lá hình Maranta, gối, hoa rất hiếm hoặc Colathea.
n 15 (không có) hoa rộng màu đỏ sặc sỡ, chỉ có 1 nhị (hoặc ½) có một noãn trong mỗi ô. Cannaceae Lá thon dài, hoa to sặc sỡ Có 1 chi Canna noãn nhiều trong mỗi ô, bầu hạ, chỉ có một phần, ½ nhị nửa còn lại lép phát triển hình thành cánh Năm 1957, Moore đã đưa ra một bản liệt kê về chuối trồng ở Mỹ, trong đó ông đặc biệt chú ý đến chuối có giá trị kinh tế như Grosmichel và Lacatan [2, 34]. Ở họ Musaceae có 2 chi Ensete và Musa, chúng rất giống nhau ở bộ lá và dạng cây, song có một đặc điểm lại rất khác nhau: Chi Ensete do Horaninov đặt tên, vì có bộ lá giống lá chuối nên một thời gian dài người ta xếp chúng vào chi Musa. Đây là loại cây thân thảo, chỉ sinh sản một lần, thân ngầm không bao giờ đẻ nhánh, hoa và lá bắc dính liền nhau và vào cuống buồng, chúng sinh sản hữu tính, không cây nào trong chi này có quả tươi được vì quả của chúng chỉ có một lớp vỏ mỏng bên trong chứa đầy hạt có đường kính to từ 1 - 1,2cm.
Chi này có cây Ensete vetricosum thường trồng ở Đông Phi, người ta lấy bẹ của chúng làm rau ăn hoặc lấy chất bột trong bẹ ủ làm men để làm bánh ăn. Chi Musa có 4 phân chi (chi phụ Subgenus) Austrilimusa, Callimusa, Eumusa và Rohdochilamys trong đó 2 phân chi đầu có số nhiễm sắc thể cơ sở là X = 10, 2 phân chi sau có số nhiễm sắc thể cơ sở là X = 11 [76]. Austrilimusa là phân chi cổ nhất trong họ Musaceae, các cây M.abaca chỉ sử dụng làm dây buộc, chúng chỉ có ý nghía về khía cạnh nghiên cứu nguồn gốc của chuối, không có ý nghĩa về kinh tế. Callimusa gồm chỉ một loài dùng làm cảnh do các lá bắc mầu đỏ tươi Musacocinea.
n 16 Rohdochilamys tuy có số nhiễm sắc thể X = 11 nhưng có đặc điểm là bông đứng và rất ít hoa trong mỗi lá bắc (từ 1 - 5 hoa). Cây chuối kiềng đỏ Musa ornata roxb có lá bắc mầu hồng tím nhạt, hoa mầu vàng tươi, loại này giống Calimusa chỉ trồng để làm cảnh. Eumusa là một phân chi đáng chú ý nhất không chỉ vì nó lớn nhất, phong phú về nòi nhất mà còn vì giá trị kinh tế của nó đặc biệt trong lĩnh vực ăn tuơi và làm lương thực. Buồng quả của Eumusa ít nhiều cụp xuống, có thể ngang hoặc hơi ngang, hay buồng thõng xuống, mỗi nải có số quả nhiều xếp thành hai hàng.
Trong Eumusa có các nòi chuối dại có thể không hoặc ít khi có ích nhưng lại có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu về phân loại (ví dụ Musabasjvo sicb, cây dùng để lấy sợi, chịu rét tốt có nguồn gốc ở các đảo cực nam của Nhật Bản, có thể trồng được trong các vườn phía nam của nước Pháp). Musa intinerans - cheesm có nguồn gốc ở Miến Điện với đặc điểm là những cây con mọc rất xa những cây mẹ. Nhưng các nòi chuối ăn được theo E.E Cheesman và học trò của ông là Simmonds và Shepherd cho rằng chúng có nguồn gốc từ hai loài quan trọng nhất là M. acuminata colla và M.
Trải qua nhiều quá trình biến đổi chúng đã trở thành loài không hạt ăn được. Thực ra điều phát hiện này đã được Skuaz. 1965 nói đến nhưng sau này Cheesman và cộng sự của ông đã khẳng định lại. Musa acuminata colla là một thứ đa dạng, sống trong một khu địa lý rất rộng thuộc châu Á từ các đảo Samoa ở nam Ấn Độ qua các đảo lớn của Indonesia, bán đảo Đông Dương và Malaysia.
Chúng rất đa dạng về hình dạng và ổn định về di truyền, bởi vậy cho đến nay trên thế giới chưa có một thống kê chính xác nào về các dòng, chúng có thể khác nhau về lớp sáp ở bẹ lá, mầu sắc thân giả, góc tạo bởi buồng và thân, độ dài của buồng, hình dạng của quả…, Mỗi đặc điểm khác nhau này đều được xếp vào một loại phụ. Musa balbisiana colla là một thứ chuối khỏe, có thân giả mầu sáng, mập mạp, có rất nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Philippines. Đặc điểm của Musa n 17 balbisiana là buồng thõng đứng, quả mập ngắn, ít cong và ít số lượng về chủng loại [71]. Simmonds còn tìm thấy ở Guinea có hai loài mới không xếp được vào chi nào có số nhiễm sắc thể cơ sở X = 7 (Musa ingcusimm) và X = 9 ( Musabaccriisinm) [2].
Lịch sử phát triển cây chuối Từ xa xưa việc trồng và nhân giống chuối đã tồn tại. Ở châu Đại Dương nghề nông đã có sớm nhất khoảng 8.000 năm trước Công nguyên vùng này đầu tiên đã thấy xuất hiện chuối Austramusa, loài này đã được coi là một trong những cây nông nghiệp đầu tiên. Chúng được thu thập nhờ các cuộc thám hiểm, người ta tìm thấy chúng đầu tiên ở New Guinea (Simmonds 1966) [59] và được di chuyển đến Thái Bình Dương từ thời tiền sử (Krich 1978) [46]. Khoảng 4000 năm trước Công nguyên việc giao lưu văn hóa và nông nghiệp được phát triển sớm nhất ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á (Yên 1993).
Philippine cũng là một nước được trao đổi các cây trồng khác nhau trong đó có những cây thuộc Emusa (Krich 1978) [37], mà sau này được xác định là nhóm chuối có kiểu gen AAB và ABB (Simonds. Về sau người châu Âu đã quay trở lại thăm dò nhiều dạng chuối ở khu vực này để xác minh lại, trong đó có cả những nơi xa xôi như châu Đại Dương (Longdon 1993) [47]. Việc sử dụng và trồng chuối ở Ấn Độ cũng đã xuất hiện từ hàng nghìn năm trước đây, chúng đã được viết trong kinh thánh và được khắc họa trên tường ở các thánh đường (Rcynolds 1927) [49], (Kervegant, 1935) [51,35]. Ở về phía tây của trái đất diện tích trồng chuối và chuối ăn luộc cũng ngày càng được mở rộng trong thời gian gần đây (Kervegant 1935) [44] đã đưa ra giả thiết về sự có mặt của chuối ở Trung Đông và châu Phi là do người Ả rập cổ xưa mang đến.
n 18 Sự mô tả về chuối một cách rõ ràng và sớm nhất do người Hy Lạp cổ xưa thực hiện từ 325 năm trước Công nguyên. Trong cuộc hành trình của Alexrander đến Ấn Độ (Rcynolds 1927, Kervegand 1935). Sau đó khoảng 100 năm sau Công nguyên người Ả rập đã thống trị mảnh đất từ Ấn Độ đến Tây Ban Nha (Kinder và Higeman, 1974) [45] và chuối lại được quan tâm phát triển. Nhất là chuối ăn quả tươi và chuối ăn luộc đã được đưa đến Bắc Phi và phát triển rộng ở đây, mặc dù mảnh đất này rất khô cằn (Rcynolds, 1927) đã dựa vào những hóa thạch và các bức vẽ trên các hang động cho rằng chuối cũng được trồng và phát triển được 15 thế kỷ ở châu Phi, trong đó Đông Phi chủ yếu trồng 2 loài chuối có kiểu gen AA và AAA vùng gần xích đạo phát triển chủ yếu chuối ăn luộc mang kiểu gen AAB (Vansina, 1984 - 1990) [66 - 68] đã giải thích về sự xuất hiện chủ yếu của chuối mang kiểu gen AAB ở châu Phi và cả ở Ấn Độ là một phần do sự thích nghi về khí hậu, song chủ yếu là nhu cầu cấp bách về lương thực ở những nước này [41,52].
Đến thế kỷ 10 do ảnh hưởng của nền văn minh Ả rập, mối quan hệ giữa các nước được mở rộng.