Chương 1 trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, và mục tiêu cụ thể mà tác giả mong muốn đạt được. Bên cạnh đó, tác giả định hình khung của luận văn thông qua việc làm rõ phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết về thương mại quốc tế Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu nhưng phải đến cuối thế kỷ 15, những lý thuyết đầu tiên của hoạt động này mới dần hình thành.
Ở giai đoạn này, chủ nghĩa trọng thương phát triển với quan điểm khuyến khích xuất khẩu, và hạn chế nhập khẩu. Tuy nhiên, họ lại nhìn nhận thương mại quốc tế như một “trò chơi” với tổng lợi ích bằng không, điều này chỉ đúng trong mô hình thương mại – không sản xuất. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, các lý thuyết dần được hoàn thiện và phù hợp hơn. Năm 1776, lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith cho rằng mỗi quốc gia có một lợi thế nhất định, và thương mại quốc tế sẽ giúp cho nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn xét trên phương diện toàn cầu.
Lý thuyết này đã phần nào giải thích được xu hướng xuất khẩu của một số mặt hàng nhất định ở các quốc gia. Nhưng vấn đề đặt ra lúc này là vẫn có một số quốc gia hoàn toàn không có lợi thế về mặt hàng nào, nhưng họ vẫn xuất khẩu. Và David Ricardo đã trả lời cho câu hỏi này với lý thuyết lợi thế so sánh vào năm 1817: tạo ra lợi thế từ quy mô sản xuất, phân công lao động quốc tế - đây là một trong những lý thuyết quan trọng của thương mại quốc tế nhưng vẫn còn hạn chế khi cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị. Một lý thuyết khác ra đời vào năm 1936 của Gottfried Haberler đưa ra ý tưởng về chi phí cơ hội: với đường biên giới hạn nguồn lực, ta sẽ phải hy sinh một đơn vị sản phẩm này để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm khác.
Điều này giải thích cho nhu cầu thương mại quốc tế giữa các quốc gia: trao đổi các nguồn lực dư thừa lấy các nguồn lực khan hiếm (dựa trên cơ sở các sản phẩm tạo ra). Những năm gần đây, lý thuyết về thương mại quốc tế hiện đại cũng được các nhà kinh tế học phát triển để phù hợp hơn cho bối cảnh hội nhập toàn cầu. Tiêu biểu có thể kể đến lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael E. Theo đó, cơ sở cạnh tranh của các quốc gia được hình thành từ bốn yếu tố chính: chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành – các điều kiện về phía cầu – các ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan – các điều kiện về yếu tố sản xuất (mô hình kim cương).
Ông cho rằng một quốc 6 gia nên xuất khẩu mặt hàng có lợi thế trên cả bốn yếu tố trên, và nhập khẩu những mặt hàng không thuận lợi. Nhìn chung, thương mại quốc tế (ngoại thương) là một hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ xuyên biên giới giữa các quốc gia. Hoạt động này tác động đến toàn bộ nền kinh tế thế giới. Chính nhờ tính chất toàn cầu đã đề cập ở trên, thương mại quốc tế sẽ tạo cơ hội cho người tiêu dùng trên toàn thế giới được sử dụng các hàng hóa, dịch vụ mà nước sở tại chưa có.
Trên góc độ quốc gia, thương mại quốc tế còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, vốn, cũng như tài nguyên nếu các nước tham gia vào hoạt động này tận dụng tốt thế mạnh của mình trong quá trình chuyên môn hóa. Hai hoạt động chính tạo nên tính toàn cầu cho thương mại quốc tế là xuất khẩu và nhập khẩu. Trong đó, xuất khẩu là hình thức cung cấp dịch vụ, hàng hóa từ nước sở tại (hay còn gọi là nước xuất khẩu) sang các nước khác. Ngược lại, nhập khẩu là việc nước sở tại (nước nhập khẩu) sử dụng các sản phẩm dịch vụ cung cấp từ nước ngoài.
Trong Luật Thương mại năm 2005- 36/2005/QH11 cũng đưa ra định nghĩa cụ thể cho hai khái niệm này như sau: - Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. - Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi của luận văn, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu lý thuyết hoạt động thương mại quốc tế ở khía cạnh xuất khẩu mặt hàng gạo. Vai trò của xuất khẩu gạo Xuất khẩu gạo là một quy trình khép kín, được tạo thành từ một chuỗi những nghiệp vụ phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau.
Để đạt được hiệu quả khi thực hiện, một thương vụ xuất khẩu gạo thường được tiến hành qua các bước: - Nghiên cứu thị trường quốc tế 7 - Lựa chọn nguồn cung và lên kế hoạch thu mua - Lựa chọn đối tác xuất khẩu - Ký kết hợp đồng - Thực hiện hợp đồng - Đánh giá hiệu quả của quá trình Cùng với nhập khẩu, hoạt động xuất khẩu vốn đã có mặt từ rất lâu đời, là cột mốc đánh dấu sự phát triển của hình thức thương mại quốc tế. Hình thức trao đổi xuyên biên giới này được thực hiện cho hầu hết mọi loại hàng hóa, dịch vụ từ hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm, khoáng sản, đến các mặt hàng máy móc thiết bị công nghệ cao. Hoạt động này được xem là một hình thức của mối quan hệ xã hội, giúp phân phối lại nguồn lực, tài nguyên,…giữa các quốc gia nhằm đem lại lợi ích tối ưu cho người tiêu dùng cuối cùng, cũng như sự phát triển chung cho nền kinh tế thế giới. Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, xuất khẩu ngày càng thể hiện vai trò của mình trong việc phản ánh sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu ngày một lan tỏa hiện nay.
Xuất khẩu nói riêng hay thương mại quốc tế nói chung dựa trên cơ sở lợi thế so sánh giữa các quốc gia. Lợi thế so sánh này có thể là các lợi thế khách quan như vị trí địa lý, khí hậu, khoáng sản,… cũng có thể đến từ sự phát triển khoa học công nghệ. Do sự chênh lệch này, các quốc gia sẽ lựa chọn các sản phẩm thế mạnh của mình để chuyên môn hóa, giảm chi phí sản xuất cho cả nền kinh tế toàn cầu, và phát sinh nhu cầu mậu dịch giữa các quốc gia. Điều này dẫn đến sự phụ thuộc kinh tế chúng ta đã đề cập ở trên.
Như vậy, chuyên môn hóa sẽ đem lại lợi ích cho cả nước xuất khẩu (thu được ngoại tệ) và cho nước nhập khẩu (mua được hàng hóa, dịch vụ giá rẻ). Từ đó, tạo điều kiện để các quốc gia có thể đầu tư, nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình, rút ngắn chênh lệch kinh tế với các quốc gia phát triển khác. Việt Nam là một đất nước nông nghiệp lâu đời với khí hậu phù hợp cho việc trồng lúa nước, đây cũng được xem là lợi thế của nước ta khi so sánh với các quốc gia khác. Cùng với sự phát triển chung của đất nước, nền nông nghiệp cũng có những bước phát triển nhanh chóng.
Mặc dù thay đổi cơ cấu cây trồng làm giảm diện tích trồng lúa so với các cây trồng khác, nhưng việc tăng tỷ trọng trồng các giống lúa chất lượng cao 8 giúp cho hạt gạo của Việt Nam có sức cạnh tranh hơn, thu được nhiều ngoại tệ hơn (do giá tăng), và thâm nhập được vào các thị trường cao cấp, khó tính. Đứng trong Top ba quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, lợi ích chúng ta nhận được không chỉ là hàng nghìn tỷ ngoại tệ thu về hàng năm tạo điều kiện để đầu tư, phát triển các lĩnh vực khác, mà còn là cơ hội việc làm cho rất nhiều lao động khu vực nông thôn, giảm thất nghiệp, ổn định xã hội. Các hình thức xuất khẩu gạo Hoạt động xuất khẩu được diễn ra với nhiều hình thức đa dạng. Nhưng đối với xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam chủ yếu được diễn ra theo ba hình thức: Xuất khẩu trực tiếp.
các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ trực tiếp trao đổi với đối tác để thỏa thuận về các điều khoản hợp đồng. Hình thức này sẽ giúp hai bên dễ dàng bàn bạc, tránh những hiểu lầm đáng tiếc và tăng lợi nhuận do không phải thông qua bên trung gian. Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ chủ động được khâu chuẩn bị, và điều chỉnh kịp thời theo thị trường. Tuy nhiên hình thức này cũng đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu cần trang bị đầy đủ những kiến thức về thị trường, và có nguồn nhân lực đáp ứng đủ trình độ cho các nghiệp vụ.
Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác). là hình thức xuất khẩu có sự xuất hiện của bên trung gian (nhận ủy thác) để hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu (bên ủy thác). Áp dụng hình thức này, doanh nghiệp xuất khẩu phải trích một phần lợi nhuận cho nhân tố trung gian. Tuy nhiên, họ sẽ tránh được rủi ro bị ép giá do thiếu hiểu biết về thị trường, và có thể tập trung vào chuyên môn của mình hơn.
Xuất khẩu theo định thư giữa hai chính phủ. doanh nghiệp xuất khẩu căn cứ theo chỉ tiêu của nhà nước giao để tiến hành xuất khẩu gạo cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký giữa hai Chính phủ. Khoản thanh toán trong trường hợp này được đảm bảo bởi chính phủ, và giá cả cũng xác lập ở mức hợp lý để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong đó, hình thức xuất khẩu theo định thư sẽ ít chịu rủi ro về biến động lạm phát, tỷ giá, lãi suất hơn so với hai hình thức còn lại do được đảm bảo bởi chính phủ.
Tuy nhiên, không phải DNXK nào cũng có đủ điều kiện để xuất khẩu theo hình thức này. Vì 9 vậy, việc nhận biết các biến động, ảnh hưởng, rủi ro khách quan từ bên ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trước những thay đổi của thị trường. Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo Thương mại quốc tế được hình thành dựa trên hai hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Và cũng như thương mại thông thường, nó cũng chịu ảnh hưởng của quy luật cung – cầu.