Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam" được tác giả Trần Thị Quỳnh Hoa thực hiện năm 2021 tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Từ Thúy Anh, thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh kinh tế thế giới sau các cuộc khủng hoảng tài chính và sự gia tăng của biến đổi khí hậu, dịch bệnh đã thúc đẩy các quốc gia chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh nhằm bảo tồn hệ sinh thái và phục hồi tăng trưởng. Tại Việt Nam, sau 30 năm tăng trưởng với mức tăng GDP bình quân đầu người đạt 5,5%/năm kể từ năm 1990 và tỷ lệ nghèo cùng cực giảm xuống dưới 3%, nền kinh tế vẫn đối mặt với tình trạng khai thác tài nguyên kém hiệu quả, gia tăng ô nhiễm và phát thải khí nhà kính trên một đơn vị GDP. Trước các cam kết chiến lược (như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh năm 2012, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và mục tiêu giảm 8% phát thải khí nhà kính đến năm 2030 bằng nguồn lực trong nước, có thể đạt 25% khi có hỗ trợ quốc tế), chính sách tài chính giữ vai trò công cụ điều tiết quan trọng.
Tuy nhiên, hệ thống chính sách tài chính của Việt Nam còn bộc lộ một số hạn chế như mức thuế suất và phí đánh vào hoạt động gây ô nhiễm chưa phù hợp, danh mục chịu thuế bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, chế tài xử phạt chưa đủ mạnh. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trong nước và quốc tế trước đây chưa đánh giá một cách hệ thống và chuyên sâu về chính sách tài chính gắn liền với mô hình kinh tế xanh; các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào một số sắc thuế riêng lẻ hoặc gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung mà chưa lượng hóa đầy đủ mức độ tác động của chính sách tài chính đến các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh tại Việt Nam, từ đó lượng hóa tác động, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng hợp cơ sở lý luận về chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh.
- Đánh giá thực trạng nền kinh tế xanh và các chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh tại Việt Nam.
- Đánh giá lượng hóa tác động của chính sách tài chính đến lượng phát thải khí CO2.
- Đúc rút bài học kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh cho Việt Nam đến năm 2030.
Câu hỏi nghiên cứu
Tác giả đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Thứ nhất: Chính sách tài chính có vai trò như thế nào đối với nền kinh tế xanh?
- Thứ hai: Chính sách tài chính ở các quốc gia trên thế giới có những nội dung gì nhằm hướng tới nền kinh tế xanh và Việt Nam có thể học tập được gì?
- Thứ ba: Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh của Việt Nam đã đạt được những kết quả gì, những nội dung nào cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện?
- Thứ tư: Các giải pháp nào cần thực hiện để hoàn thiện chính sách tài chính ở Việt Nam nhằm hướng tới nền kinh tế xanh?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chính sách thu ngân sách (4 sắc thuế: Thuế Tài nguyên, Thuế Bảo vệ môi trường, Thuế Thu nhập doanh nghiệp với nội dung ưu đãi thuế, Thuế Tiêu thụ đặc biệt), chính sách chi ngân sách nhà nước, và các công cụ tài chính khác (tín dụng xanh, trái phiếu xanh, hạn ngạch tín chỉ các-bon). Trong phần phân tích định lượng, do hạn chế dữ liệu, tác giả tập trung đánh giá tác động của Thuế Bảo vệ môi trường đến lượng phát thải khí CO2.
- Phạm vi không gian: Thực trạng tại Việt Nam; nghiên cứu so sánh kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc; mở rộng kinh nghiệm phát hành trái phiếu xanh tại Ấn Độ và vận hành thị trường tín chỉ các-bon tại Liên minh Châu Âu (EU).
- Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu và chính sách giai đoạn 1986–2020; các giải pháp và mục tiêu hướng tới mốc năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Về vai trò và trở ngại của chính sách tài chính xanh: OECD (2017) chỉ ra rằng xanh hóa nền kinh tế bao trùm đòi hỏi hệ thống chỉ số đo lường đa lĩnh vực. Withana (2013) phân tích các rào cản đối với chính sách tài chính xanh như thiếu ý chí chính trị, thông tin minh bạch hạn chế và sự phản đối từ các nhóm lợi ích.
- Về chính sách thu và định giá môi trường: Mooij và cộng sự (2012), Ngân hàng Thế giới - WB (2019) khẳng định thuế môi trường là công cụ tiết kiệm chi phí để giảm phát thải CO2. Fay và cộng sự (2015) phân tích tính ổn định của cơ sở thuế xanh. Reyer Gerlagh và Bob van der Zwaan (2006) kết luận: thuế các-bon là phương án hiệu quả nhất; trợ cấp năng lượng tái tạo là phương án tốn kém nhất; đánh thuế nhiên liệu hóa thạch tốn kém hơn khoảng 20% so với đánh thuế trực tiếp lên khí thải CO2; việc tái sử dụng nguồn thu từ thuế để hỗ trợ năng lượng tái tạo giúp giảm chi phí ứng phó biến đổi khí hậu tới 40%. Sebastian J. chỉ ra mối quan hệ giữa nguồn thu thuế môi trường và mức giảm phát thải CO2 bình quân đầu người.
- Về chính sách chi công: Barbier và Markandya (2013), Robins, Clover và Singh (2009) đánh giá các gói chi tiêu xanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009. Cottrel và Falcão (2018) chỉ ra cơ chế trích lập nguồn thu từ thuế môi trường vào các quỹ phát triển bền vững. Nghiên cứu của RSWMOD (2012) phân tích trường hợp Slovenia đầu tư hạ tầng quản lý chất thải thông qua vốn vay EBRD, viện trợ SIDA (Thụy Điển), chính phủ Pháp và ngân sách EU.
- Về các công cụ tài chính khác: Báo cáo Climate Bonds (2020) thống kê quy mô phát hành trái phiếu xanh toàn cầu giai đoạn 2017–2019 đạt 257,7 tỷ USD (tăng trưởng bình quân 46%/năm). Wang và cộng sự (2019) chỉ ra khó khăn của Trung Quốc trong khung pháp lý tín dụng xanh. CPLC (2016) dẫn chứng Thụy Điển áp dụng định giá các-bon kết hợp quay vòng doanh thu. Wien và Botang (2012), Lalon (2015), Ritu (2014) làm rõ khái niệm ngân hàng xanh và tín dụng xanh hỗ trợ thiết bị kiểm soát ô nhiễm. Barnes (2019), Merk và cộng sự (2012), Della Croce và Yermo (2013), Bhattacharya và Stern (2015) chứng minh vai trò của trái phiếu xanh trong việc huy động vốn dài hạn từ quỹ hưu trí và bảo hiểm cho hạ tầng môi trường.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Tổng quan về kinh tế xanh: Hà Huy Ngọc và Trần Ngọc Ngoạn (2013) làm rõ xu hướng xanh hóa kinh tế sau năm 2008; Nguyễn Đức Cường (2012) phân tích tiềm năng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối); Trần Thanh Lâm (2013) nhấn mạnh khung chính sách hỗ trợ và vận động tài chính.
- Về chính sách thu: Lê Thị Mai Liên (2017) đánh giá các ưu đãi thuế cho công nghệ sạch; Nguyễn Đình Chiến (2017) chỉ ra các hạn chế của thuế Bảo vệ môi trường, Thuế Thu nhập doanh nghiệp và Thuế Tiêu thụ đặc biệt; Nguyễn Thị Thanh Hoài (2014) phân tích tác động của thuế môi trường tới hành vi và nguồn thu ngân sách nhà nước.
- Về chính sách chi: Lê Quang Thuận (2016) và CIEM (2015) đề xuất tăng chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; Lương Thu Thủy (2021) nhận định chi ngân sách môi trường tại Việt Nam còn thiếu sự điều phối thống nhất giữa các cơ quan quản lý.
- Về công cụ tài chính khác: Trần Thị Xuân Anh và Trần Thị Thu Hương (2021), Phạm Xuân Hòe và cộng sự (2015) chỉ ra sự phụ thuộc của tín dụng xanh vào các dự án quốc tế và sự thiếu hụt tiêu chí thẩm định; Phạm Tiến Đạt và Lê Minh Hương (2020), Trang Trần (2018) nêu rõ khoảng trống pháp lý của thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách hệ thống hóa lý thuyết về chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh trên cả ba phương diện (chính sách thu, chính sách chi và các công cụ thị trường tài chính), phân tích tác động theo ba kênh (kinh tế, xã hội, môi trường), đồng thời thực hiện mô hình hồi quy lượng hóa ảnh hưởng của thuế Bảo vệ môi trường đến phát thải CO2 tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm
- Nền kinh tế xanh: Khái niệm xuất hiện lần đầu từ công trình của David Pearce (1989) trong nghiên cứu cho Chính phủ Anh. Theo UNEP (2011), nền kinh tế xanh là nền kinh tế phát thải các-bon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bao trùm xã hội. Armand Kaszterlan (2017) và United Nations (2012) xác định kinh tế xanh nâng cao đời sống con người trong giới hạn sinh thái. Sáng kiến Kinh tế Xanh của Liên Hợp Quốc (2007) định nghĩa đây là quá trình tái cơ cấu hoạt động kinh tế để giảm phát thải và suy thoái tài nguyên.
- Mục tiêu của nền kinh tế xanh: Theo Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc (2015), kinh tế xanh bao gồm 12 mục tiêu thuộc khung 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs):
| TT |
Mục tiêu hướng tới nền kinh tế xanh (UN, 2015) |
| 1 |
Xóa đói, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, phát triển nông nghiệp bền vững |
| 2 |
Đảm bảo nguồn cung cấp và quản lý bền vững nguồn nước, vệ sinh môi trường |
| 3 |
Đảm bảo tiếp cận năng lượng hiện đại, bền vững, đáng tin cậy và giá cả phải chăng |
| 4 |
Khuyến khích tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo việc làm đầy đủ, năng suất cao |
| 5 |
Xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, công nghiệp hóa toàn diện và bền vững, thúc đẩy đổi mới |
| 6 |
Xây dựng các đô thị và cộng đồng an toàn, đồng bộ, bền vững |
| 7 |
Đảm bảo các mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững |
| 8 |
Hành động khẩn cấp giải quyết biến đổi khí hậu và các tác động liên quan |
| 9 |
Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và tài nguyên biển |
| 10 |
Bảo vệ, khôi phục, sử dụng bền vững hệ sinh thái trên cạn, quản lý rừng, chống sa mạc hóa |
| 11 |
Thúc đẩy xã hội hòa bình, công bằng, xây dựng thể chế hiệu quả, có trách nhiệm giải trình |
| 12 |
Nâng cao năng lực thực hiện và củng cố quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững |
- Chính sách tài chính quốc gia: Theo OECD (2002) và Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội (2012), chính sách tài chính là tổng thể các mục tiêu, biện pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để huy động, phân bổ các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội. Hệ thống bao gồm 4 bộ phận: tài chính công, tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính và tài chính dân cư. Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2016) định nghĩa chính sách tài chính xanh là hệ thống chính sách khuyến khích các hoạt động xanh và hạn chế hành vi gây tổn hại môi trường.
- Hệ thống chính sách kinh tế xanh: OECD (2011) phân loại các công cụ can thiệp xử lý thất bại thị trường (thuế, trợ cấp, nhãn sinh thái, tiêu chuẩn kỹ thuật); UNDESA (2012c) phân loại thành 6 nhóm: chính sách nội bộ hóa chi phí ngoại tác, chính sách khuyến khích, chính sách thể chế, chính sách đầu tư, chính sách thông tin và chính sách thị trường lao động/xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý luận; phương pháp nghiên cứu tình huống (case study); phương pháp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế nhằm so sánh các mô hình chính sách tài chính của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, EU.
- Phương pháp định lượng:
- Mô hình hồi quy: Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để ước lượng mối quan hệ giữa chính sách tài chính và lượng phát thải CO2 (đại diện cho chất lượng môi trường trong nền kinh tế xanh):
$$\text{LnCO2}_i = b_0 + b_1 \text{CSTC}_i + b_2 X_i + \varepsilon_i$$
- Biến phụ thuộc: Lượng phát thải khí $\text{CO}_2$ ($\text{LnCO2}$).
- Biến chính sách tài chính ($\text{CSTC}$): Thuế Bảo vệ môi trường.
- Biến kiểm soát ($X_i$): Tăng trưởng kinh tế (GDP), Tiêu thụ năng lượng, Dân số, Độ mở thương mại (dựa trên tổng hợp từ Adedoyin, 2020; Rahman, 2020; Talbi, 2017; Wang và Lin, 2017; Ab-Rahim và Xin-Di, 2016; Keho, 2016; Zakarya và cộng sự, 2015; Vera và Saumas, 2015; Jeffrey và Perkins, 2015; Cetin và Ecevit, 2015; Lin và Li, 2011; Stolyarova, 2009; Engelman, 1998; O’Neill, 2000; Boehringer và cộng sự, 2019; Li và Masui, 2019).
- Công cụ xử lý: Phần mềm STATA.
- Nguồn dữ liệu: Thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Cổng thông tin Chính phủ, Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về nền kinh tế xanh và chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kinh tế xanh và chính sách tài chính:
- Đặc trưng nền kinh tế xanh: (i) Giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu (CO2 chiếm hơn 80% khí nhà kính); (ii) Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển năng lượng tái tạo; (iii) Ứng dụng công nghệ sạch, thân thiện môi trường trong xử lý chất thải, giao thông và sản xuất công nghiệp.
- Vai trò: Thúc đẩy tăng trưởng bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận hạ tầng năng lượng sạch, tạo việc làm xanh và duy trì chức năng cung cấp nguyên liệu của các hệ sinh thái.
- Các giác độ tác động của chính sách tài chính:
- Kinh tế: Điều tiết tổng cầu, huy động nguồn lực cho chuyển dịch cơ cấu ngành ít phát thải, tạo nguồn thu ngân sách bền vững và giảm biến dạng thị trường.
- Môi trường: Định hướng hành vi sản xuất - tiêu dùng thông qua cơ chế người gây ô nhiễm phải trả tiền, kích thích đầu tư công nghệ sạch.
- Xã hội: Tái phân phối thu nhập, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu rủi ro sinh thái cho nhóm dân cư dễ bị tổn thương.
- Tổng kết khung phương pháp: Xác định mô hình hồi quy OLS và lựa chọn các biến số kinh tế vĩ mô để kiểm định tác động định lượng của thuế bảo vệ môi trường đến phát thải CO2.
Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh
Chương 2 phân tích thực tiễn áp dụng chính sách tài chính xanh tại một số quốc gia:
| Quốc gia / Khu vực |
Chính sách thu |
Chính sách chi & Công cụ khác |
Kết quả & Hạn chế ghi nhận |
| Nhật Bản |
• Thuế các-bon (áp dụng từ 2012): bổ sung vào thuế dầu mỏ và than đá, mức thuế 289 Yên/tấn CO2. • Dự án thuế Feed-in tariffs (FIT, từ 01/7/2012): quy định giá mua điện mặt trời giảm dần từ 42 Yên/kWh (2012) xuống 14 Yên/kWh (2019), thời hạn hợp đồng 20 năm. |
• Phân bổ nguồn thu thuế các-bon và năng lượng cho Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp và Bộ Môi trường để trợ cấp công nghệ các-bon thấp, hỗ trợ hạ tầng năng lượng hạt nhân/hóa thạch. |
• Thu thuế các-bon tăng từ 500 triệu USD (2012) lên 2,18 tỷ USD (2015). • Phát thải CO2 giảm từ 1,3 tỷ tấn (2012) xuống 1,23 tỷ tấn (2016). • Tồn tại: Thuế suất thấp nên hiệu quả giảm phát thải CO2 hạn chế (-0,2% do giá, -4,2% do chi ngân sách năm 2020); chịu phản đối từ doanh nghiệp và tạo gánh nặng chi phí lên hộ nghèo. |
| Trung Quốc |
• Thuế tài nguyên: thí điểm Tân Cương (2010), mở rộng toàn quốc (2011), Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực từ 01/9/2020 đưa ra 164 hạng mục tính theo giá trị hoặc khối lượng. • Thuế khí thải: theo Luật thuế BVMT (hiệu lực 01/01/2018), áp dụng đối với 44 loại khí thải với mức từ 1,2 đến 12 NDT/đương lượng ô nhiễm. |
• Phát triển tín dụng xanh với sự chỉ đạo của nhà nước. • Mở rộng phát hành trái phiếu xanh phục vụ năng lượng tái tạo và xử lý môi trường. |
• Tăng tính minh bạch trong quản lý tài nguyên và kiểm soát xả thải công nghiệp. • Tồn tại: Khung pháp lý tín dụng xanh chồng chéo, thiếu hệ thống tiêu chuẩn đánh giá rủi ro môi trường đồng bộ. |
| Hàn Quốc |
• Áp dụng các sắc thuế môi trường và cơ chế điều chỉnh giá năng lượng. |
• Chi ngân sách cho Chiến lược Tăng trưởng Xanh; đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ sạch. |
• Đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm tiêu hao năng lượng. |
| EU & Ấn Độ |
• EU áp dụng hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải (EU-ETS). |
• Ấn Độ nằm trong nhóm 10 quốc gia phát hành trái phiếu xanh lớn nhất thế giới. |
• EU tạo lập cơ chế định giá carbon theo thị trường hiệu quả; Ấn Độ huy động nguồn vốn lớn cho hạ tầng xanh. |
Bảng chi tiết: Giá mua điện mặt trời ($\ge 10$ kW) theo cơ chế FIT của Nhật Bản (2012–2019):
| Năm tài chính |
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
| Giá mua (Yên/kWh) |
42 |
36 |
32 |
29 |
24 |
21 |
18 |
14 |
| Thời hạn hợp đồng |
20 năm |
20 năm |
20 năm |
20 năm |
20 năm |
20 năm |
20 năm |
20 năm |
Bảng trích lược: Thuế suất một số nhóm khoáng sản theo Luật Thuế tài nguyên Trung Quốc (2020):
| Nhóm tài nguyên |
Mục thuế |
Đối tượng thu thuế |
Thuế suất quy định |
| Khoáng sản năng lượng |
Dầu thô; Khí tự nhiên, khí đá phiến |
Quặng thô |
6% |
|
Than |
Quặng thô hoặc quặng tinh |
2% – 10% |
|
Khí than |
Quặng thô |
1% – 2% |
|
Uranium, Thorium |
Quặng thô |
4% |
|
Địa nhiệt |
Quặng thô |
1% – 20% hoặc 1 – 30 NDT/m³ |
| Khoáng sản kim loại |
Sắt, Mangan, Crom, Vanadi, Titanium |
Quặng thô hoặc quặng tinh |
1% – 9% |
|
Đồng, Chì, Kẽm, Thiếc, Niken |
Quặng thô hoặc quặng tinh |
2% – 10% |
|
Vàng, Bạc |
Quặng tinh |
2% – 6% |
|
Đất hiếm nhẹ (La-Sm) |
Quặng tinh |
7% – 12% |
|
Đất hiếm trung bình, nặng (Eu-Lu) |
Quặng tinh |
20% |
| Khoáng sản phi kim & khác |
Cát thạch anh, đá phiến, mica |
Quặng thô hoặc quặng tinh |
1% – 12% |
|
Đá quý, Ngọc bích, Kim cương |
Quặng thô hoặc quặng tinh |
4% – 20% |
|
Nước khoáng |
Quặng thô |
1% – 20% hoặc 1 – 30 NDT/m³ |
|
Muối biển |
Quặng thô |
2% – 5% |
Chương 3: Đánh giá chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam
- Thực trạng chính sách thu:
- Thuế Bảo vệ môi trường: Áp dụng đối với các sản phẩm khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường (như xăng dầu, than đá, túi ni-lông thuộc diện chịu thuế).
- Thuế Tài nguyên: Điều tiết khai thác khoáng sản, nước dưới đất và tài nguyên thiên nhiên.
- Thuế Thu nhập doanh nghiệp: Áp dụng các mức thuế suất ưu đãi (10%), miễn giảm thuế có thời hạn đối với doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, công nghệ sạch.
- Thuế Tiêu thụ đặc biệt: Áp dụng thuế suất phân hóa nhằm hạn chế phương tiện tiêu thụ nhiều nhiên liệu và khuyến khích phương tiện sử dụng năng lượng sạch (xe điện).
- Thực trạng chính sách chi: Ngân sách nhà nước bố trí nguồn chi sự nghiệp bảo vệ môi trường (đảm bảo tỷ lệ tối thiểu không dưới 1% tổng chi ngân sách theo quy định) và vốn đầu tư phát triển cho hạ tầng thoát nước, xử lý rác thải, ứng phó biến đổi khí hậu.
- Thực trạng công cụ tài chính khác: Hoạt động tín dụng xanh bước đầu triển khai thông qua các dự án vay vốn ODA và tài trợ quốc tế; thị trường trái phiếu xanh và tín chỉ carbon đang ở giai đoạn thí điểm sơ khai.
- Kết quả đạt được: Tăng nguồn thu ngân sách từ thuế môi trường và tài nguyên; nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp; thu hút vốn đầu tư vào các dự án điện gió, điện mặt trời.
- Hạn chế và nguyên nhân: Mức thuế suất thuế bảo vệ môi trường và thuế tài nguyên chưa đủ sức bù đắp chi phí ngoại ứng; khung pháp lý phát hành trái phiếu xanh thiếu hướng dẫn phân loại dự án cụ thể; chi ngân sách cho môi trường còn phân tán, thiếu sự phối hợp liên ngành; các chế tài xử phạt vi phạm môi trường chưa đủ sức răn đe.
- Kết quả ước lượng định lượng: Phân tích mô hình OLS cho thấy thuế bảo vệ môi trường có mối quan hệ ngược chiều với lượng phát thải CO2 (thuế góp phần làm giảm phát thải CO2), tuy nhiên mức độ tác động còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng GDP, mức tiêu thụ năng lượng hóa thạch và quy mô dân số.
Chương 4: Bài học cho Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính nhằm hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam
- Mục tiêu đến năm 2030: Đảm bảo thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính (giảm 8% bằng nguồn lực quốc gia, hướng tới 25% với hỗ trợ quốc tế); tái cơ cấu chi tiêu công và hệ thống thuế hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế.
- Bài học kinh nghiệm rút ra: (i) Cần thiết kế lộ trình điều chỉnh thuế rõ ràng, tránh gây sốc chi phí cho doanh nghiệp; (ii) Sử dụng nguồn thu từ thuế môi trường để tài trợ trở lại cho năng lượng tái tạo và hỗ trợ an sinh xã hội cho người nghèo; (iii) Hoàn thiện đồng bộ hệ thống đo lường, giám sát phát thải.
- Đề xuất giải pháp chính sách thu:
- Rà soát, sửa đổi Luật Thuế Bảo vệ môi trường: mở rộng đối tượng chịu thuế, điều chỉnh khung thuế suất gắn với mức độ phát thải thực tế.
- Hoàn thiện Luật Thuế Tài nguyên theo hướng chuyển dần sang tính thuế theo giá trị và tăng thuế suất đối với khoáng sản không tái tạo.
- Nghiên cứu xây dựng và áp dụng thuế các-bon với lộ trình thuế suất tăng dần theo kinh nghiệm Nhật Bản.
- Điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp tập trung vào nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ sạch.
- Đề xuất giải pháp chính sách chi: Tăng tỷ trọng chi ngân sách cho khoa học công nghệ môi trường; nâng cao hiệu quả phân bổ và giải ngân nguồn chi sự nghiệp môi trường; lồng ghép tiêu chí mua sắm công xanh.
- Đề xuất giải pháp công cụ tài chính khác:
- Xây dựng khung pháp lý, quy chuẩn và tiêu chí xanh cho thị trường trái phiếu xanh (hướng dẫn phát hành trái phiếu chính phủ xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh).
- Hoàn thiện sàn giao dịch tín chỉ các-bon nội địa kết nối với thị trường quốc tế.
- Xây dựng tiêu chuẩn danh mục phân loại dự án xanh để các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng xanh.
- Giải pháp bổ trợ: Nâng cao năng lực cán bộ hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống thống kê - cơ sở dữ liệu môi trường và đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa khung lý thuyết toàn diện về mối quan hệ giữa chính sách tài chính và nền kinh tế xanh, làm rõ cơ chế tác động của các công cụ thu, chi và thị trường tài chính trên 3 giác độ: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Tổng hợp hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến nền kinh tế xanh và phát thải khí nhà kính dựa trên việc rà soát các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo cứu chi tiết kinh nghiệm xây dựng và thực thi thuế các-bon, biểu giá FIT năng lượng của Nhật Bản, Luật Thuế tài nguyên và thuế khí thải của Trung Quốc, cùng cơ chế thị trường tài chính xanh của EU, Hàn Quốc, Ấn Độ; rút ra các bài học tham chiếu cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng hệ thống chính sách tài chính của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2020, chỉ ra các kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi trong chính sách thu, chi và công cụ tài chính hỗ trợ.
- Lượng hóa thực nghiệm tác động của chính sách Thuế Bảo vệ môi trường đến lượng phát thải khí CO2 tại Việt Nam bằng mô hình hồi quy OLS trên phần mềm STATA.
- Đề xuất hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ đến năm 2030, bao gồm đề xuất lộ trình áp dụng thuế các-bon, hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh và thị trường tín chỉ các-bon tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn dữ liệu thống kê chuỗi thời gian tại Việt Nam, phần đánh giá lượng hóa của luận án mới chỉ tập trung phân tích tác động của một công cụ cụ thể là Thuế Bảo vệ môi trường đến biến đại diện môi trường (lượng phát thải CO2), chưa thực hiện lượng hóa đồng thời tác động đa chiều của toàn bộ các sắc thuế, chi tiêu công và các công cụ tài chính khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khi hệ thống dữ liệu thống kê quốc gia về chi tiêu công xanh, trái phiếu xanh và tín dụng xanh được chuẩn hóa, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mô hình định lượng đa biến hoặc sử dụng các mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để đánh giá tác động tổng thể của toàn bộ hệ thống chính sách tài chính đến tăng trưởng kinh tế xanh.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước) trong việc xây dựng khung khổ pháp lý cho thuế các-bon, thị trường tín chỉ các-bon và trái phiếu xanh.
- Các giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính công, Kinh tế môi trường và Quản lý kinh tế.
- Nội dung giá trị: Khung phân tích lý thuyết về 3 giác độ tác động (kinh tế, xã hội, môi trường); hệ thống số liệu kinh nghiệm quốc tế chi tiết về thuế tài nguyên Trung Quốc và biểu giá FIT Nhật Bản; mô hình thực nghiệm OLS đánh giá tác động của thuế môi trường đến phát thải CO2.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định chính sách tài chính tác động đến nền kinh tế xanh qua những giác độ nào?
Luận án phân tích tác động của chính sách tài chính qua 3 giác độ: (i) Về mặt kinh tế: điều tiết tổng cầu, huy động và phân bổ nguồn lực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sang ngành ít phát thải, tạo nguồn thu ngân sách bền vững; (ii) Về mặt môi trường: điều chỉnh hành vi của nhà sản xuất và người tiêu dùng theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, kích thích đầu tư công nghệ sạch; (iii) Về mặt xã hội: giảm nghèo, hỗ trợ tiếp cận năng lượng sạch và cải thiện sức khỏe cộng đồng.
2. Chính sách thuế các-bon của Nhật Bản được triển khai như thế nào và đạt kết quả gì?
Nhật Bản đưa thuế các-bon vào chương trình cải cách thuế năm 2012, áp dụng bổ sung vào thuế than đá và dầu mỏ hiện hành đối với khâu khai thác/nhập khẩu với mức thuế 289 Yên/tấn CO2. Chính sách này giúp thu ngân sách tăng từ 500 triệu USD (2012) lên 2,18 tỷ USD (2015), hỗ trợ giảm lượng phát thải CO2 từ 1,3 tỷ tấn (2012) xuống 1,23 tỷ tấn (2016). Tuy nhiên, mức thuế thấp khiến hiệu quả kiểm soát phát thải trực tiếp qua giá chỉ đạt -0,2% trong năm 2020.
3. Luật Thuế tài nguyên năm 2020 của Trung Quốc có những đặc điểm gì đáng chú ý?
Luật Thuế tài nguyên của Trung Quốc (hiệu lực từ 01/9/2020) quy định 164 hạng mục chịu thuế bao gồm toàn bộ khoáng sản và muối khai thác. Luật áp dụng hai phương pháp tính thuế: theo giá trị (doanh số tiêu thụ nhân thuế suất) hoặc theo khối lượng (sản lượng tiêu thụ nhân mức thu tuyệt đối). Thẩm quyền quyết định mức thuế suất cụ thể được phân cấp cho chính quyền địa phương cấp tỉnh đề xuất và Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân cùng cấp phê chuẩn.
4. Mô hình định lượng của luận án sử dụng phương pháp nào và gồm các biến số gì?
Luận án sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) được xử lý bằng phần mềm STATA. Biến phụ thuộc là logarit lượng phát thải khí CO2 ($\text{LnCO2}$); biến chính sách tài chính độc lập là Thuế Bảo vệ môi trường; các biến kiểm soát bao gồm: Tăng trưởng kinh tế (GDP), Tiêu thụ năng lượng, Dân số và Độ mở thương mại.
5. Luận án tập trung đánh giá những sắc thuế nào trong chính sách thu của Việt Nam?
Luận án tập trung phân tích 4 sắc thuế chính có tác động lớn nhất đến nền kinh tế xanh tại Việt Nam: Thuế Tài nguyên, Thuế Bảo vệ môi trường, Thuế Thu nhập doanh nghiệp (tập trung vào các chính sách ưu đãi cho dự án xanh) và Thuế Tiêu thụ đặc biệt (đối với ô tô và phương tiện tiêu thụ nhiên liệu).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Quỳnh Hoa đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của chính sách tài chính đối với quá trình phát triển nền kinh tế xanh trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Thông qua việc phân tích thực nghiệm mô hình OLS và tổng hợp kinh nghiệm từ các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, công trình đã làm rõ thực trạng, thành tựu và hạn chế của hệ thống tài chính xanh tại Việt Nam giai đoạn 1986–2020. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện về chính sách thu, chi ngân sách và các công cụ thị trường tài chính nhằm hỗ trợ Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính đến năm 2030.