Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh Nguyễn Tân Thịnh với đề tài "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" (Học viện Hậu cần, 2019; Người hướng dẫn: TS. Phan Hữu Nghị, PGS.TS. Nguyễn Văn Xa; Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng, Mã số: 9340201) đặt nền móng tiên phong cho việc chuyển đổi mô hình quản lý công sản tại Việt Nam từ cơ chế hành chính bao cấp nặng về kiểm soát hiện vật sang mô hình kinh tế hóa nguồn vật lực công dựa trên quy luật thị trường. Bối cảnh nghiên cứu gắn liền với yêu cầu cấp bách về tái cơ cấu thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 07-NQ/TW năm 2016 và Nghị quyết số 39-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị, đồng thời triển khai đồng bộ Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 trên nền tảng Hiến pháp năm 2013.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định rõ: Trước công trình này, y văn kinh tế trong nước chủ yếu tiếp cận tài sản công (TSC) dưới góc độ quản trị hành chính tĩnh hoặc xử lý kỹ thuật đơn lẻ cho từng phân đoạn tài sản riêng biệt (như trụ sở cơ quan hay tài sản tịch thu sung quỹ), mà hoàn toàn thiếu vắng một khung lý thuyết chỉnh thể về "khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công" như một chu trình chuyển hóa giá trị tiềm năng thành các quỹ tiền tệ quốc gia.

Luận án thiết lập hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và 3 giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses - H) tương ứng:

  • RQ1: Bản chất, nội hàm, nguyên tắc, hình thức và công cụ nào chi phối chu trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC trong nền kinh tế thị trường?
  • RQ2: Bài học kinh nghiệm quốc tế nào về quản trị tài chính công sản có giá trị tham chiếu cho thể chế Việt Nam?
  • RQ3: Đâu là những điểm nghẽn, thất thoát và nguyên nhân gốc rễ trong thực tiễn khai thác nguồn lực tài chính từ 4 nhóm TSC chủ lực tại Việt Nam giai đoạn 2009–2018?
  • RQ4: Khả năng tạo lập nguồn thu từ TSC giai đoạn 2020–2025, tầm nhìn 2035 là bao nhiêu và hệ giải pháp chiến lược nào bảo đảm tính khả thi?
  • H1: Chuyển đổi phương thức khai thác tài sản công từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế định giá và đấu giá thị trường sẽ tối ưu hóa tỷ trọng thu NSNN và giảm thiểu thất thoát nguồn lực công sản.
  • H2: Tích hợp dữ liệu và thiết lập chủ thể quản trị tập trung là điều kiện tiên quyết để giải quyết triệt để vấn đề "bi kịch của cái chung" trong sở hữu toàn dân về tài sản công.
  • H3: Đa dạng hóa các công cụ tài chính (chuyển nhượng quyền thu phí, PPP, cho thuê quyền khai thác) tạo ra dòng tiền bền vững mà không làm suy giảm quyền sở hữu quốc gia.

Về quy mô và phạm vi, nghiên cứu bao quát 4 nhóm TSC mang tính đại diện cao nhất: (i) TSC khu vực hành chính sự nghiệp (HCSN); (ii) Tài sản kết cấu hạ tầng giao thông - thủy lợi; (iii) Tài sản xác lập quyền sở hữu toàn dân; và (iv) Đất đai. Dữ liệu thực chứng được phân tích theo chuỗi thời gian 10 năm (2009–2018) và dự báo nguồn lực tài chính cho giai đoạn 2020–2025, tầm nhìn 2035 trên phạm vi toàn quốc.

Literature Review và Positioning

Khảo cứu tổng quan các công trình khoa học cho thấy bức tranh phân mảnh trong nghiên cứu quản lý tài sản công. Tại Việt Nam, các tác giả đi trước đã tiếp cận từng khía cạnh kỹ thuật cụ thể: Phan Hữu Nghị (2010) đề xuất mô hình tổng công ty đầu tư và kinh doanh bất động sản nhà nước để quản lý trụ sở làm việc; La Văn Thịnh (2015) nghiên cứu công cụ kế toán và yêu cầu phản ánh nguồn lực công trên Bảng cân đối kế toán nhà nước; Lê Thị Việt Hà (2016) xây dựng chỉ tiêu thanh lý, điều chuyển tài sản ngành tòa án; Tạ Thanh Tú và Chu Thị Thủy Chung (2016, 2017) khảo sát cơ chế quản lý nhà, đất khu vực HCSN; Trần Đức Thắng (2012) hệ thống hóa cơ chế khai thác tài chính từ đất đai; Phạm Minh Hóa (2019) chỉ ra thực trạng "khung giá đất, bảng giá đất luôn không theo kịp biến động của thị trường, có nơi khung giá đất chỉ bằng 20% giá thị trường".

Trên trường quốc tế, các học thuyết nền tảng chi phối lĩnh vực này gồm: Phân tích kinh tế về quyền tài sản (Economic Analysis of Property Rights) của Yoram Barzel (1997); Lý thuyết tài nguyên dùng chung (Common-Pool Resources) của chủ nhân giải Nobel Kinh tế Elinor Ostrom (2009); và Chuyên khảo đột phá The Public Wealth of Nations của Dag Detter và Stefan Fölster (2015).

Y văn thế giới tồn tại cuộc tranh luận học thuật sâu sắc giữa hai trường phái đối lập về xử lý tài sản công:

  1. Trường phái Tân cổ điển (Tư nhân hóa triệt để & Thuế Pigou): Lập luận rằng để giải quyết thất thoát và lãng phí của "cái chung", con đường duy nhất là chuyển giao quyền sở hữu cho tư nhân hoặc áp đặt thuế Pigou từ bên ngoài nhằm đưa chi phí cá nhân tiệm cận chi phí xã hội.
  2. Trường phái Thể chế phi tập trung (Elinor Ostrom): Chứng minh rằng việc tư nhân hóa hay áp đặt thuế quan liêu thường thất bại tại các nước đang phát triển, từ đó đề xuất cơ chế tự quản trị thích ứng của cộng đồng người sử dụng dựa trên quy tắc đồng thuận và chi phí giám sát thấp.

Luận án định vị chính xác khoảng trống học thuật: Trong khi các công trình quốc tế thường giả định môi trường đa sở hữu tư nhân hoàn chỉnh, Việt Nam duy trì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và tài nguyên do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Luận án bắc nhịp cầu lý thuyết giữa kinh tế học thể chế và tài chính công hiện đại bằng cách chứng minh: Không cần tư nhân hóa quyền sở hữu gốc, Nhà nước vẫn có thể thương mại hóa quyền khai thác kinh tế thông qua các công cụ thị trường (thẩm định giá độc lập, đấu giá công khai, hợp đồng PPP, chuyển nhượng quyền thu phí).

So sánh với các nghiên cứu quốc tế: Khác với mô hình Thụy Sỹ vốn tuyệt đối hóa tính chất phi thương mại của tài sản công ích (chỉ công nhận giá trị sử dụng công cộng mà cấm cho thuê/chuyển nhượng), công trình này tiếp cận theo hướng tiến bộ tương đồng với nghiên cứu của Dag Detter & Stefan Fölster và mô hình quản trị tài sản công của Đài Loan, khẳng định tài sản công phi thương mại vẫn có thể cấu trúc lại để sinh dòng tiền thông qua nhượng quyền khai thác dịch vụ phụ trợ.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết Quyền tài sản của Yoram Barzel và Lý thuyết Quản trị của Elinor Ostrom thông qua việc phân tách rạch ròi giữa "quyền sở hữu pháp lý tối cao của Nhà nước" và "quyền khai thác giá trị kinh tế của chủ thể sử dụng". Tác giả chuẩn hóa định nghĩa mang tính học thuật cao:

"Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công là quá trình sử dụng các hình thức, công cụ nhằm thu được giá trị từ tài sản công thông qua các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sở hữu và chủ thể quản lý, sử dụng tài sản công để tạo lập các quỹ tiền tệ cho nhà nước."

Đóng góp lý thuyết còn thể hiện ở việc xác lập 4 nguyên tắc vận hành có tính quy luật:

  • Nguyên tắc định danh chủ thể duy nhất: Mỗi tài sản công phải gắn với một đầu mối chịu trách nhiệm kinh tế trực tiếp nhằm triệt tiêu hiện tượng "cha chung không ai khóc".
  • Nguyên tắc hiệu quả và nuôi dưỡng nguồn thu: Khai thác gắn liền với bảo tồn, tái tạo giá trị, lựa chọn phương án có lợi ích ròng cao nhất.
  • Nguyên tắc thị trường hóa và minh bạch: Vận hành dựa trên tín hiệu thị trường, cạnh tranh bình đẳng qua đấu giá, niêm yết công khai.
  • Nguyên tắc chế tài nghiêm minh: Phòng ngừa trục lợi từ chênh lệch địa tô và chuyển dịch tài sản công sang tư nhân bất hợp pháp.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án là sự tích hợp đa chiều giữa 3 trường phái lý thuyết: (1) Lý thuyết Tài chính công hiện đại (Public Finance Theory); (2) Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management - NPM); và (3) Kinh tế học Quyền tài sản (Property Rights Economics).

   [HỆ THỐNG THỂ CHẾ & CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN]
[4 NHÓM TÀI SẢN CÔNG]               [NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CỐT LÕI]
1. Khu vực HCSN                     - Định danh chủ thể chịu trách nhiệm
2. Kết cấu hạ tầng                  - Hiệu quả & Nuôi dưỡng nguồn lực
3. Quyền sở hữu toàn dân            - Minh bạch hóa & Cơ chế thị trường
4. Đất đai & Tài nguyên             - Chế tài & Kiểm soát thất thoát
       [HÌNH THỨC & CÔNG CỤ KHAI THÁC]
   - Giao quyền / Cấp quyền khai thác
   - Cho thuê tài sản / Cho thuê quyền khai thác
   - Chuyển nhượng có thời hạn / Quyền thu phí
   - Góp vốn, liên doanh, liên kết / Hợp đồng PPP
   - Định giá độc lập, Đấu giá, Niêm yết công khai
  [HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ĐA TẦNG (KÉP)]
   - Định lượng: Tỷ trọng thu NSNN, Tốc độ tăng trưởng, Suất sinh lời
   - Định tính: Tính bền vững tài khóa, Mức độ minh bạch, Tránh lãng phí
       [TỐI ƯU HÓA CÁC QUỸ TIỀN TỆ QUỐC GIA]

Khung phân tích này thiết lập boundary conditions (điều kiện biên) chặt chẽ: Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nơi Nhà nước giữ vai trò đại diện chủ sở hữu tối cao, nhưng các quyết định phân bổ nguồn lực vận hành theo cơ chế giá cả thị trường.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan triết học hiện thực phản tư (Critical Realism) kết hợp thực chứng (Positivism), nhìn nhận tài sản công vừa có giá trị vật chất khách quan vừa chịu sự chi phối của các cấu trúc thể chế xã hội. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp quy mô lớn với phương pháp chuyên gia đa ngành. Thiết kế đa tầng (Multi-level design) được triển khai qua 3 cấp độ:

  • Cấp vĩ mô: Cơ quan hoạch định chính sách (Chính phủ, Quốc hội, Bộ Tài chính, Bộ TN&MT).
  • Cấp trung gian: Cơ quan quản lý chuyên trách (Cục Quản lý công sản, Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước, UBND cấp tỉnh).
  • Cấp vi mô: Đơn vị sự nghiệp công lập, ban quản lý dự án, doanh nghiệp khai thác kết cấu hạ tầng.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược thu thập dữ liệu thứ cấp được chuẩn hóa nghiêm ngặt từ Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Tài sản công, báo cáo quyết toán NSNN của Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ và số liệu thống kê đất đai của Bộ TN&MT.

Quy trình tam giác hóa (Triangulation) được thực hiện toàn diện:

  • Tam giác hóa dữ liệu (Data triangulation): Đối chiếu chéo giữa số liệu hạch toán của Kho bạc Nhà nước với số liệu báo cáo của cơ quan Thuế và kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.
  • Tam giác hóa lý thuyết (Theory triangulation): Kết hợp kinh tế học thể chế, tài chính công và quản trị doanh nghiệp để soi chiếu hiện tượng thất thoát công sản.
  • Phương pháp chuyên gia (Expert elicitation): Tham vấn sâu ý kiến của các nhà lập pháp, chuyên gia định giá tài sản, nhà quản lý công sản hàng đầu tại Việt Nam để kiểm chứng tính giá trị nội dung (content validity).

Data và phân tích

Dữ liệu bao gồm các tập hợp thống kê toàn diện:

  • Cơ cấu tài sản công khu vực HCSN tính đến ngày 31/12/2018 (đất đai, nhà công vụ, xe ô tô, tài sản trên 500 triệu đồng).
  • Số thu, số chi bảo trì của Quỹ Bảo trì đường bộ; số thu từ kết cấu hạ tầng đường sắt, đường thủy nội địa giai đoạn 2014–2018.
  • Kết quả thu ngân sách từ đất đai và cơ cấu thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giai đoạn 2009–2018.
  • Số liệu xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước và tài sản từ các dự án PPP/BT.

Kỹ thuật phân tích bao gồm thống kê mô tả chuỗi thời gian (time-series descriptive statistics), phân tích cấu trúc tỷ trọng, phân tích so sánh động thái và phân tổ dữ liệu. Kiểm tra tính vững (Robustness checks) được thực hiện bằng cách so sánh số liệu thực thu với số liệu dự toán được duyệt qua các năm ngân sách.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Công trình công bố 4 nhóm phát hiện thực nghiệm mang tính bước ngoặt:

  1. Quy mô tài sản công khổng lồ nhưng hiệu suất khai thác chưa tương xứng: Dẫn chiếu báo cáo từ 27 quốc gia của IMF, giá trị tài sản công do trung ương quản lý lên tới 114% GDP; và theo tính toán của Dag Detter & Stefan Fölster:

    "Tổng TSC trên toàn thế giới nằm trong tay chính phủ, nếu được tính toán thận trọng, lớn đến nỗi nếu lợi nhuận cao hơn chỉ 1% sẽ thêm vào tiền thu nhập quốc gia 750 tỷ USD mỗi năm." Tại Việt Nam, nguồn lực này ước tính tương đương hàng trăm tỷ USD nhưng đóng góp cho NSNN còn manh mún, thiếu một bảng cân đối tổng thể tài sản quốc gia.

  2. Cơ cấu nguồn thu từ đất đai chiếm vị thế áp đảo nhưng kém bền vững: Phân tích dữ liệu giai đoạn 2009–2018 chứng minh các khoản thu từ đất luôn chiếm trên 10-15% tổng thu NSNN, nhưng chủ yếu là thu "một lần" từ giao đất ở và tiền sử dụng đất, trong khi tiền thuê đất hàng năm và thuế tài sản chiếm tỷ trọng rất thấp, tạo rủi ro cạn kiệt địa tô trong dài hạn.

  3. Thất thoát nghiêm trọng tại các điểm giao thoa công - tư (PPP, BT, Liên doanh liên kết): Cơ chế xác định giá đất để thanh toán dự án BT (đổi đất lấy hạ tầng) và định giá tài sản góp vốn liên doanh tại các đơn vị sự nghiệp công lập mang nặng tính hành chính áp đặt, thấp hơn từ 30% đến 80% giá trị thị trường, tạo kẽ hở cho hiện tượng "chuyển dịch ngầm" tài sản nhà nước sang khu vực tư nhân.

  4. Khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông ở trạng thái sơ khai: Giai đoạn 2014–2018, các hình thức chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa mới chỉ triển khai thí điểm cục bộ, chưa hình thành thị trường mua bán quyền khai thác tài sản công minh bạch.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Thiết lập hoàn chỉnh hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế hóa tài sản công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp mô hình phân tích chu trình dòng tiền tài sản công, áp dụng được cho việc đánh giá hiệu quả quản trị tài sản công cấp địa phương và bộ ngành.
  • Về thực tiễn quản lý: Đề xuất mô hình Hệ thống giao dịch điện tử quốc gia về tài sản công (Public Asset Electronic Trading System) nhằm xóa bỏ hoàn toàn cơ chế "xin - cho", chỉ định thầu thiếu minh bạch.
  • Về chính sách: Cung cấp luận cứ vững chắc cho việc sửa đổi Luật Đất đai, hoàn thiện các Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, và định hình chiến lược tái cơ cấu nguồn thu tài chính quốc gia giai đoạn 2020–2025, tầm nhìn 2035.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:

  • Giới hạn dữ liệu lịch sử: Do hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản kết cấu hạ tầng mới hình thành, số liệu khai thác hạ tầng giao thông chi tiết chỉ tập trung sâu từ năm 2014 đến 2018 thay vì đủ 10 năm như mảng đất đai và HCSN.
  • Phạm vi tài sản vô hình: Công trình tập trung vào 4 nhóm tài sản hữu hình chủ lực, chưa bao quát tài sản công vô hình (tài nguyên số, dữ liệu công dân số, quyền sở hữu trí tuệ của nhà nước).
  • Phạm vi chu trình: Luận án giới hạn nghiên cứu ở khâu tạo lập và khai thác nguồn thu, không đi sâu vào khâu phân bổ và chi tiêu nguồn thu sau khi nộp vào NSNN.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  1. Ứng dụng kinh tế lượng không gian (Spatial Econometrics) để định lượng tác động lan tỏa của việc khai thác quỹ đất quanh các trục hạ tầng giao thông (mô hình TOD).
  2. Xây dựng khung lý thuyết định giá và khai thác nguồn lực tài chính từ tài nguyên số và tài sản dữ liệu công (Public Data Assets).
  3. Đánh giá tác động thể chế của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công sau 10 năm thi hành (giai đoạn 2018–2028).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Định hình chuyên khảo chuẩn mực đầu tiên về tài chính công sản tại Việt Nam, mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa Tài chính công, Luật Kinh tế và Kinh tế học Thể chế.
  • Tác động chính sách: Trực tiếp hỗ trợ Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) và Ban Kinh tế Trung ương trong việc thể chế hóa Nghị quyết 39-NQ/TW thành các đề án quản trị tài sản công cấp quốc gia.
  • Chuyển dịch thực tiễn: Thúc đẩy tiến trình số hóa và áp dụng đấu giá điện tử công khai đối với tài sản công và quyền sử dụng đất, nâng cao tính minh bạch của thị trường bất động sản.
  • Lợi ích tài khóa: Cung cấp giải pháp kỹ thuật có khả năng huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng cho ngân sách thông qua tối ưu hóa quyền thu phí hạ tầng và thu đúng giá trị địa tô chênh lệch.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giảng viên đại học: Tiếp cận khung lý thuyết hoàn chỉnh và hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy về kinh tế học công sản.
  • Nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ TN&MT, Quốc hội): Sử dụng các khuyến nghị về định giá thị trường, mô hình giao dịch điện tử và thể chế hóa hợp đồng PPP/BT.
  • Cơ quan quản lý địa phương (UBND cấp tỉnh/thành phố): Nắm bắt phương pháp luận đánh giá hiệu quả khai thác tài sản công trên địa bàn để chống thất thoát ngân sách.
  • Doanh nghiệp & Nhà đầu tư tư nhân: Hiểu rõ cơ chế tiếp cận, thuê quyền khai thác hạ tầng và tham gia các dự án đối tác công - tư minh bạch, bình đẳng.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Phân tích Kinh tế về Quyền tài sản (Property Rights Theory) của Yoram Barzel vào thể chế kinh tế đặc thù của Việt Nam. Điểm độc đáo nằm ở việc chứng minh: Trong điều kiện "sở hữu toàn dân", Nhà nước có thể tách rời quyền sở hữu danh nghĩa với quyền thương mại hóa tài sản để áp dụng đầy đủ các công cụ thị trường (đấu giá quyền khai thác, cho thuê, PPP), biến tài sản tĩnh thành dòng tiền động mà không làm biến dạng bản chất pháp lý của sở hữu toàn dân.

2. Điểm mới về phương pháp luận nghiên cứu so với các công trình trước đây là gì?
Trả lời: So với các nghiên cứu đơn ngành của Phan Hữu Nghị (2010) hay Trần Đức Thắng (2012), luận án thiết lập phương pháp tiếp cận đa tầng tích hợp (Multi-level Integrated Approach) trên 4 nhóm tài sản chủ lực, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp 10 năm từ CSDL Quốc gia về TSC với phương pháp tam giác hóa kiểm toán (Audit Triangulation), khắc phục triệt để tình trạng phân mảnh dữ liệu giữa các bộ ngành.

3. Phát hiện thực nghiệm nào bất ngờ và có ý nghĩa cảnh báo cao nhất?
Trả lời: Phát hiện về sự mất cân đối nghiêm trọng trong cấu trúc thu từ đất đai: Nguồn thu phụ thuộc tới trên 80% vào các khoản thu một lần (tiền sử dụng đất khi giao đất, chuyển mục đích sử dụng), trong khi dòng thu bền vững từ tiền thuê đất hàng năm và thuế tài sản chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Điều này cảnh báo nguy cơ suy giảm mạnh nguồn thu tài khóa khi quỹ đất sạch cạn kiệt trong 10-15 năm tới.

4. Luận án có cung cấp quy trình sao chép/tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Trả lời: Luận án cung cấp bộ tiêu chí đánh giá kép rõ ràng (gồm 6 chỉ tiêu định lượng và 4 nhóm tiêu chí định tính) cùng cấu trúc mô hình Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công. Bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể áp dụng nguyên vẹn khung phân tích này để khảo sát trên tập dữ liệu của các giai đoạn phát triển tiếp theo hoặc áp dụng riêng cho từng tỉnh/thành phố cụ thể.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo như thế nào?
Trả lời: Lộ trình tập trung vào 3 trọng tâm: (i) Giai đoạn 2020–2023: Hoàn thiện chuẩn mực kế toán công và lập Bảng cân đối tài sản công quốc gia; (ii) Giai đoạn 2023–2027: Mở rộng thương mại hóa quyền khai thác hạ tầng số và tài sản vô hình nhà nước; (iii) Giai đoạn 2027–2030: Chuyển đổi toàn diện sang mô hình quản trị quỹ đầu tư công sản quốc gia theo chuẩn mực doanh nghiệp (National Wealth Fund).

Kết luận

  1. Luận án đã hoàn thiện căn bản khung lý thuyết về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  2. Thiết lập hệ thống 4 nguyên tắc vận hành cốt lõi và khung phân tích tích hợp 3 trường phái lý thuyết (Tài chính công, Quản trị công mới, Quyền tài sản).
  3. Đánh giá toàn diện và hệ thống hóa thực trạng khai thác 4 nhóm tài sản công chủ lực giai đoạn 2009–2018 bằng phương pháp tam giác hóa dữ liệu thực chứng.
  4. Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn thể chế dẫn đến thất thoát nguồn lực và đề xuất mô hình Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công cấp quốc gia.
  5. Cung cấp dự báo khả năng tạo lập nguồn tài chính đến năm 2025, tầm nhìn 2035, đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp vào công cuộc tái cơ cấu tài chính công bền vững.
  6. Mở ra bước chuyển biến hệ hình tư duy (paradigm shift) từ quản lý hành chính hiện vật thụ động sang quản trị giá trị tài sản công năng động, hiện đại và hội nhập quốc tế.