Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG 1. Các công trình nghiên cứu ở trong nước 1. Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp ● Trong Luận án tiến sĩ: “Quản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”, 2010, Đại học Kinh tế Quốc dân, NCS Phan Hữu Nghị trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của các nước về mô hình quản lý TSC, đặc biệt là mô hình quản lý bất động sản công, đồng thời căn cứ vào thực tiễn quản lý TSC là trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta (giai đoạn 1995 - 2009), đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện công tác quản lý trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước hướng tới đảm bảo kỷ luật tài khoá tổng thể và hiệu quả phân bổ nguồn lực cho mỗi cấp hành chính; trong đó, để bảo đảm hiệu quả sử dụng của TSC trong điều kiện NSNN có hạn đối với mỗi cấp hành chính, tác giả đưa ra mô hình tổng công ty đầu tư và kinh doanh bất động sản nhà nước. Đây là những giải pháp có tác động trực tiếp tới việc khai thác nguồn lực từ trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước [44].
● Trong Luận án tiến sĩ: “Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam”, 2015, Học viện Tài chính, NCS La Văn Thịnh khẳng định: “Việc sử dụng, khai thác các TSC có tác dụng kích thích quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra những khoản thu lớn cho tài chính công”. Đồng thời, đưa ra kiến nghị: “cần quy định rõ về tiêu thức, đối tượng, phạm vi cần theo dõi, bảo đảm mục đích phản ánh một cách đầy đủ những thông tin thuộc nguồn lực nhà nước trên Bảng cân đối kế toán nhà nước. Việc xử lý thông tin báo cáo được thực hiện theo chuẩn mực kế toán công và quy trình tổng hợp thông tin do Bộ Tài chính ban hành”. Kiến nghị này nếu được thực hiện sẽ cho phép luan an 9 tổng hợp một cách đầy đủ nguồn lực từ TSC làm cơ sở cho việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC khu vực HCSN một cách chủ động [67].
● Trong Luận án tiến sĩ: “Quản lý TSNN tại ngành tòa án nhân dân ở Việt Nam”, 2016, Học viện Hậu cần, NCS Lê Thị Việt Hà đã xây dựng khái niệm hiệu quả sử dụng TSNN trong các cơ quan nhà nước, đưa ra 4 tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TSNN tại các cơ quan nhà nước; thiết kế xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý TSNN. Hệ thống chỉ tiêu đã phản ánh về cơ bản các khâu của quá trình quản lý TSNN, trong đó có chỉ tiêu tỷ lệ tài sản được thanh lý, điều chuyển liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính [36]. ● Trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Hoàn thiện cơ chế quản lý TSC khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam”, 2016, Bộ Tài chính, CN Tạ Thanh Tú và TS Chu Thị Thủy Chung đã nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ chế quản lý TSC theo từng mô hình hoạt động (cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập…), làm rõ sự khác nhau về cơ chế quản lý của từng mô hình hoạt động; phân tích, đánh giá cơ chế quản lý, sử dụng TSC hiện hành (tập trung phân tích các cơ chế chính sách được quy định tại Luật Quản lý, sử dụng TSNN năm 2008), rút ra những mặt được, những hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý TSC khu vực HCSN, với các mục tiêu: Triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Quản lý, sử dụng TSC 2017, khắc phục những hạn chế trong cơ chế quản lý, sử dụng TSC hiện hành, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan [73].
● Trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Quản lý trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước và cơ sở hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập”, 2017, Bộ Tài chính, CN Tạ Thanh Tú và TS Chu Thị Thủy Chung đã nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà, đất tại các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; trong đó, các tác giả xác định khai thác nhà, đất là một trong những khâu quan trọng trong quy trình quản lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp và là một trong những khâu trọng tâm cần thực hiện trong thời gian tới. Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017 tạo lập cơ sở pháp lý cho việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, với vị trí là một loại TSC quan trọng của đất nước; trong đó việc khai thác nguồn lực tài chính được coi là trung tâm của quá trình quản lý nhằm thực hiện một trong 3 đột phá chiến lược được đặt ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII. Để có cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thể hóa các quy định của Luật Quản lý, sử dụng TSC, Cục QLCS - Bộ Tài chính đã thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng, bao gồm: Đề tài “Đổi mới cơ chế tài chính phục vụ quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt” (2015, TS La Văn Thịnh làm chủ nhiệm), Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi ở Việt Nam” (2016, ThS Nguyễn Tân Thịnh làm chủ nhiệm), Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa” (2017, ThS Nguyễn Thị Thoa làm chủ nhiệm). Các Đề tài nêu trên đã tập trung nghiên cứu về cơ chế tài chính phục vụ quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi.
Trong đó, các tác giả nghiên cứu về lý luận khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi; thực trạng về khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi ở Việt Nam. Nội hàm khai thác tài sản kết cấu hạ tầng trong các đề tài bao gồm một số nội dung về các hình thức khai thác nguồn lực tài chính như: cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản và xử lý bán, thanh lý tài sản [26, 27]. Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước Trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Hoàn thiện cơ chế quản lý và xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước”, 2005, Bộ Tài chính, Nhóm tác luan an 11 giả do PGS, TS Nguyễn Văn Xa làm Chủ nhiệm đã xây dựng khung lý thuyết về tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước (khái niệm, phân loại, đặc điểm) và cơ chế quản lý, xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước (các hình thức xử lý, nội dung cơ chế, vai trò của cơ chế); khái quát kinh nghiệm của Pháp về quản lý, xử lý hàng tịch thu, từ đó rút ra 3 bài học cho Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý và xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước ở Việt Nam qua ba giai đoạn (trước năm 1995, từ năm 1995 đến tháng 9/2002, từ tháng 10/2002 đến năm 2004); trên cơ sở đó, xác định các mục tiêu, quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý và xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 [77]. Nhiều giải pháp được đề cập trong Đề tài hiện nay vẫn đang được triển khai trong thực tế ở Việt Nam.
Ngoài đề tài nêu trên, đến nay chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu về việc quản lý, xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước nói chung và tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước nói riêng. Các nghiên cứu về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai ● Trong Luận án tiến sĩ: “Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai”, 2012, Học viện Tài chính, NCS Trần Đức Thắng đã đề cập khá toàn diện cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai (những quan điểm cổ điển và khoa học về đất đai trên thế giới; khái niệm, đặc điểm khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai; vai trò của hoạt động khai thác nguồn lực tài chính đất đai; kinh nghiệm của một số quốc gia về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai…); hệ thống thể chế, chính sách khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2012; kết quả khai thác nguồn lực đất đai ở Việt Nam từ năm 2002 - 2012 và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tập trung vào các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003 [58]. ● Trong Bài báo: “Hoàn thiện chính sách về giá đất thúc đẩy thị trường bất động sản ở Việt Nam”, 2019, Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 7/2019, tác giả luan an 12 Phạm Minh Hóa cho rằng chính sách tài chính đất đai là công cụ quản lý mối quan hệ về mặt kinh tế phát sinh giữa Nhà nước với người sử dụng đất gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và người bị thu hồi đất. Do vậy, chính sách tài chính đất đai ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến đến lợi ích của các bên, còn là công cụ khuyến khích việc khai thác, sử dụng đất hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội, đồng thời, đây cũng là công cụ kinh tế giúp tăng nguồn thu từ NSNN, góp phần ổn định tài chính vĩ mô.
Trong đó, giá đất là một bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính đối với đất đai.