Chương 1: Lý luận chung về các Hiệp định thương mại tự do và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Đánh giá ảnh hưởng của các Hiệp định thương mại tự do đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Chương 3: Kết luận và một số hàm ý chính sách nhằm thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua ký kết các Hiệp định thương mại tự do. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VÀ DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.
Tổng quan về Hiệp định thương mại tự do 1. Khái niệm Theo theo cách hiểu phổ biến và truyền thống, hiệp định thương mại tự do (Free trade agreement - FTA) được hiểu là một thỏa thuận ưu đãi có tính chất phân biệt đối xử nhằm cắt giảm hoặc loại bỏ hàng rào thương mại bao gồm hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên tham gia ký kết FTA, đồng thời mỗi thành viên vẫn áp dụng các rào cản và chính sách thương mại khác nhau đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định. Xét theo tiến trình phát triển, thực tiễn hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mại trên thế giới đã chứng kiến bốn thế hệ hiệp định thương mại tự do. - Thế hệ thứ nhất: Bao gồm các thành viên có sự gần gũi tiền bạc địa lý, thuận lợi trong giao thương, tranh thủ vượt trước, tạo thuận lợi và tận dụng các lợi thế để phát triển.
Hình thức hợp tác này tập trung vào tự do hóa thương mại hàng hóa hữu hình, thông qua cắt giảm thuế quan và cùng nhau thỏa thuận loại bỏ các hàng rào phi thuế quan. - Thế hệ thứ hai: bao gồm hai hoặc nhiều hơn các thành viên có thể không kề cận nhau về mặt địa lý. Hình thức hợp tác này có nội dung được mở rộng, không chỉ tập trung vào tự do hóa sản phẩm hàng hóa hữu hình, mà còn gồm cả sản phẩm dịch vụ và đầu tư, xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong lĩnh vực dịch vụ. - Thế hệ thứ ba: có các nội dung, yêu cầu mới vươn ra khỏi khuôn khổ, quy định của GATT/WTO như các thỏa thuận trao đổi hàng hóa và dịch vụ, xúc tiến đầu tư.
Các nội dung thỏa thuận, cam kết mới bao gồm thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, các biện pháp Phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp. - Thế hệ thứ tư (thế hệ mới): về thương mại hàng hóa, phần lớn hàng nhập khẩu sẽ được loại bỏ thuế quan; về thương mại dịch vụ và đầu tư, các cam kết đều cao hơn so với cam kết WTO trong đó những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững… Như vậy, xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia kéo theo sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của các FTA thế hệ mới không chỉ dừng lại ở việc 8 tự do hóa thương mại hàng hóa thông qua cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan mà còn có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, thuận lợi hóa thương mại, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, minh bạch hóa, lao động, môi trường,. Với đặc điểm như vậy, FTA thế hệ mới không chỉ có các đặc điểm của một FTA truyền thống mà có thể mang các đặc điểm của các hình thức hội nhập cao hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra năng động và sôi nổi, việc các nước tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) có tác động ngày càng sâu rộng đến dòng vốn FDI của các nước thành viên.
Các FTA có thể ảnh hưởng đến FDI theo những cách khác nhau. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các cam kết phạm vi rộng hơn, bên cạnh các cam kết mở cửa thương mại của các hiệp định thương mại tự do truyền thống, sẽ có tác động đa chiều và phức tạp hơn đối với FDI. Vì vậy, khi phân tích tác động của FTA, cần lưu ý đến hình thức, phạm vi và mức độ cam kết hội nhập của các thành viên FTA. Các nội dung chính của Hiệp định thương mại tự do 1.
Cam kết tự tự do hóa thương mại hàng hóa Thương mại hàng hóa là lĩnh vực cam kết chính, và là cơ sở của hiệp định. Cam kết thương mại hàng hóa sẽ giúp hai bên đạt được mục tiêu mở rộng thị trường và tạo thuận lợi cho xuất nhập khẩu hàng hóa. Các nội dung và yếu tố chính của thương mại hàng hóa thường được thỏa thuận trong các hiệp định thương mại tự do, bao gồm thuế quan, tạo thuận lợi thương mại, hàng rào phi thuế quan và quy tắc xuất xứ. Thuế quan: Thuế quan được hiểu là thuế đánh vào hàng hóa thương mại khi hàng hóa đó được vận chuyển qua biên giới quốc gia (Salvatore, 2013).
Thuế quan là nội dung không thể thiếu ở tất cả các FTA. Mức độ cam kết về thuế nhập khẩu theo FTA thường sâu hơn so với các cam kết của WTO. Theo Điều XXIV của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) của WTO, các bên tham gia FTA phải cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với phần lớn thương mại giữa các bên. Thông thường, các nước thành viên cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với ít nhất 90% giá trị thương mại và số dòng thuế trong vòng 10 năm.
Các dòng thuế không cam kết hoặc có cam kết nhưng không đưa về 0% thường là các sản phẩm nhạy cảm đối với các bên. Các nước đang phát triển có thể được hưởng linh hoạt về lộ trình hoặc diện cam kết. 9 Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong FTA thường chia thành các nhóm: (i) Đưa thuế suất về 0% ngay khi FTA có hiệu lực; (ii) Đưa thuế suất về 0% theo lộ trình (cắt giảm tuyến tính); (iii) Cắt giảm thuế quan nhanh trong năm đầu tiên, sau đó cắt giảm từng bước trong những năm tiếp theo; (iv) Không cắt giảm thuế quan trong thời gian đầu mà việc cắt giảm được thực hiện vào các năm cuối của lộ trình; (v) Không cam kết. Ngoài thuế nhập khẩu, các bên tham gia FTA cũng có thể đưa ra cam kết về hạn ngạch thuế quan, thường được áp dụng đối với các mặt hàng nông sản nhạy cảm.
Hạn ngạch thuế quan là sự kết hợp giữa hạn ngạch và thuế nhập khẩu, theo đó một mức thuế thấp sẽ được áp dụng cho hàng hóa được nhập khẩu trong hạn ngạch và một mức thuế quan cao hơn sẽ được áp dụng cho lượng nhập khẩu vượt quá hạn ngạch (Salvatore, 2013, Khu Thị Tuyết Mai và Vũ Anh Dũng, 2009). Trong các FTA, nhập khẩu trong hạn ngạch từ các đối tác tham gia FTA thường được hưởng thuế suất FTA ưu đãi, nhập khẩu ngoài hạn ngạch sẽ phải chịu thuế suất ngoài hạn ngạch mà trong nhiều trường hợp là thuế suất tối huệ quốc MFN theo cam kết WTO. Ngoài ra, căn cứ vào mục tiêu chính sách của các thành viên tham gia FTA trong một số FTA còn có thỏa thuận, cam kết cả thuế xuất khẩu. Thuận lợi hóa thương mại Thuận lợi hóa thương mại là một nội dung quan trọng khác của FTA.
Nhằm thuận lợi hóa thương mại, các nước thành viên đẩy mạnh hợp tác trong nhiều lĩnh vực liên quan như hải quan, giải phóng hàng, giải quyết trước, áp dụng công nghệ thông tin trong thương mại (như kiểm tra một cửa, hải quan điện tử…), tự chứng nhận xuất xứ, hàng chuyển tải, hỗ trợ kỹ thuật, … c. Hàng rào phi thuế quan Bên cạnh các cam kết về cắt giảm thuế quan và thuận lợi hóa thương mại, các FTA còn bao gồm các nội dung cam kết liên quan đến hàng rào phi thuế quan. Hàng rào phi thuế quan là các biện pháp khác với thuế quan nhằm ngăn cấm hoặc hạn chế việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu các sản phẩm giữa hai hay nhiều quốc gia (Salvatore, 2013, Khu Thị Tuyết Mai và Vũ Anh Dũng, 2009). Các hàng rào phi thuế quan phổ biến nhất thường được quy định ở trong các FTA là hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), biện pháp vệ sinh an toàn động thực vật (SPS) và các biện pháp phòng vệ thương mại (bao gồm các biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp chống trợ cấp và các biện pháp tự vệ).
Quy tắc xuất xứ Quy tắc xuất xứ là nội dung quan trọng trong FTA vì chỉ khi đáp ứng các quy tắc xuất xứ thì hàng hóa mới được hưởng ưu đãi thuế quan quy định trong Hiệp định. Quy tắc xuất xứ do đó giúp ngăn chặn việc chuyển hàng hóa nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của thành viên có mức thuế quan thấp để xuất sang các thành viên khác. Bên cạnh quy tắc xuất xứ chung (thường sử dụng chỉ số hàm lượng giá trị khu vực – RVC), các thành viên cũng có thể đàm phán các quy tắc về chuyển đổi nhóm (CTH, CTSH) và quy tắc xuất xứ theo mặt hàng cụ thể (PSR). Cam kết tự tự do hóa thương mại dịch vụ Ngoài các cam kết về thương mại hàng hóa, nhiều FTA có Chương/Hiệp định riêng về dịch vụ.
Nội dung về dịch vụ trong các FTA thường bao gồm khung khổ chung và biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ. Khung khổ chung đề cập đến việc tuân thủ và tăng cường các nguyên tắc chính của WTO như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN), minh bạch hóa, quy định trong nước, thanh toán và chuyển khoản, tự vệ, trợ cấp… và phụ lục về một số ngành dịch vụ cụ thể (như tài chính, viễn thông, di chuyển của thể nhân, …). Trong khuôn khổ cam kết WTO và các FTA truyền thống, thương mại dịch vụ được chia thành bốn phương thức cung cấp. Phương thức đầu tiên là cung cấp qua biên giới – cung cấp dịch vụ được tiến hành từ lãnh thổ của một nước sang lãnh thổ của nước khác trong đó khách hàng và người cung cấp dịch vụ vẫn ở hai nước khác nhau (ví dụ tư vấn luật qua email/ điện thoại; khám bệnh từ xa, khóa học online).
Phương thức thứ hai là tiêu dùng ngoài lãnh thổ - người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch một nước đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó (ví dụ du lịch, du học, khám chữa bệnh ở nước ngoài).