Chương 1, nhóm nghiên cứu sẽ hệ thống hóa lại cơ sở lý luận về Hiệp định thương mại tự do bao gồm các nội dung như: khái niệm, phân loại, nội dung và các tác động,…. Nhóm nghiên cứu cũng trình bày một số phương pháp đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do và một số nội dung về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU làm cơ sở cho việc đánh giá ở Chương 3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 1. Hội nhập kinh tế quốc tế Theo Đỗ Đức Bình (2012), hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối.
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau: - Đơn phương: Các nước có thể chủ động tiến hành một cách đơn phương và tự nguyện những biện pháp nhằm tự do hóa và mở cửa nền kinh tế quốc gia, dần dần tiến tới việc xóa bỏ các quy định gây cản trở đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, tự giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu. - Song phương: Là hình thức hội nhập kinh tế giữa hai nước dựa trên thỏa thuận song phương. - Tiểu khu vực/vùng: Là hình thức hội nhập trên cơ sở một số vùng của hai hay một số nước khác nhau gần gũi về không gian địa lý thực hiện một số VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN 15 Đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đến một số ngành kinh tế trên địa bàn TP.HCM liên kết kinh tế hay kết nối cơ sở hạ tầng nhằm phát huy sự bổ trợ lẫn nhau về nguồn lực của các vùng này để phát triển kinh tế. - Khu vực: Là hình thức hội nhập giữa các nước trong cùng một khu vực địa lý như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Liên minh châu Âu (EU), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA),.
- Liên khu vực: Là hình thức hội nhập giữa các nước thuộc hai khu vực địa lý khác nhau như: ASEM (Hợp tác Á-Âu), Khu vực Mậu dịch tự do EU- ASEAN. - Toàn cầu: Hội nhập như trong khuôn khổ tổ chức WTO là hình thức hội nhập kinh tế-thương mại toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Cho tới nay khung khái niệm về các cấp độ hội nhập hay liên kết kinh tế mà nhà kinh tế học người Hungary Béla Balassa (1928 – 1991) đưa ra trong công trình “Lý thuyết về hội nhập kinh tế” năm 1961 vẫn được các nghiên cứu về hội nhập kinh tế sử dụng như là khung khái niệm chung trong quá trình phân tích những vấn đề hội nhập kinh tế.
Công trình của ông trình bày năm hình thức liên kết và hội nhập kinh tế khu vực xét theo cấp độ cam kết tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế từ “nông” tới “sâu”, bao gồm: (i) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất. (ii) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN 16 Đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đến một số ngành kinh tế trên địa bàn TP.HCM nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA),… (iii) Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối.
Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Belarus-Kazakhstan. (iv) Thị trường chung (CM): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế. Ví dụ: EU hiện nay.
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định. Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Khái niệm về Hiệp định Thương mại tự do Cho tới nay đã có rất nhiều các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái niệm về FTA cho riêng mình.
Điều này thể hiện những quan điểm khác VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN 17 Đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đến một số ngành kinh tế trên địa bàn TP.HCM nhau về FTA cũng như sự phát triển đa dạng của các quốc gia. Tuy nhiên theo cách hiểu chung nhất, Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement gọi tắt là FTA) là văn bản ghi nhận sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên (VCCI, 2015). Theo quan điểm truyền thống, FTA là hiệp định hợp tác kinh tế được ký kết giữa ít nhất hai nước nhằm cắt giảm các hàng rào thương mại, cụ thể là thuế quan, quota nhập khẩu (và các hàng rào phi thuế quan khác), đồng thời thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các nước này với nhau. Một trong các đặc điểm quan trọng của FTA truyền thống là các thành viên của FTA không có biểu thuế quan chung trong quan hệ thương mại với các nước bên ngoài FTA.
Các FTA điển hình theo khái niệm này là: FTA ASEAN (AFTA); FTA Trung Âu (CEFTA),… FTA thế hệ mới: Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa, như: FTA Việt Nam-EU (EVFTA); Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP); FTA Bắc Mỹ (NAFTA); Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR); các FTA ASEAN+1; FTA Australia- Hoa Kỳ (AUSFTA); …Các FTA nói trên được coi là “mới” vì 3 lý do sau đây: - Một số FTA “thế hệ mới” nêu trên bao gồm cả các nội dung vốn được coi là “phi thương mại” như: lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và quản trị tốt, … - Nếu so với các FTA trước đây và các hiệp định của WTO thì các FTA “thế hệ mới” bao gồm các nội dung mới hơn như: đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN 18 Đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đến một số ngành kinh tế trên địa bàn TP.HCM chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình. - Nhiều nội dung mới được quan tâm đưa vào các FTA “thế hệ mới” như: thương mại hàng hóa, bảo vệ sức khỏe động vật và thực vật trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, tự vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng, giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài,…(Nguyễn Thanh Tâm, 2016). Phân loại các FTA Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau các tổ chức, các học giả lại dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân loại các FTA, tuy nhiên có hai cách phân loại phổ biến nhất, đó là phân loại dựa vào quy mô,số ượng các thành viên tham gia và phân loại dựa vào mức độ tự do hóa (VCCI, 2015). Căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia Nếu căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia thì FTA được chia thành FTA song phương (BFTA), FTA khu vực và FTA hỗn hợp.
- FTA song phương: BFTA là loại FTA chỉ có hai nước tham gia ký kết và hiệp định này cũng chỉ có giá trị ràng buộc đối với hai quốc gia này mà thôi. BFTA do đặc điểm chỉ gồm 2 thành viên nên quá trình đàm phán và việc đạt được thỏa thuận cũng trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn so với các FTA khu vực hay FTA hỗn hợp. Trong làn sóng ký kết FTA toàn cầu hiện nay thì BFTA là loại FTA được ký kết nhiều nhất, phát triển mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng cam kết. - FTA khu vực: FTA khu vực là Hiệp định Thương mại tự do có sự tham gia của từ ba nước thành viên trở lên, thông thường các nước này có vị trí địa lý gần nhau.