CHƯƠNG 1 CƠ SO LÝ LUẬN VE BAO ĐIỆN TU VA VAN DE XUẤT KHẨU NÔNG SAN CUA ĐBSCL 1. Các khái niệm liên quan đến đề tai 1. Truyền thông và thông điệp truyền thông trên báo chí Khái niệm truyền thông “Truyén thông” (communication) xuất phát từ từ “communis” trong tiếng Latin, có nghĩa là “lam cho pho biến, công cộng”. Trải qua hàng trăm năm, từ “truyền thong” được sử dụng dé chỉ hoạt động giao tiếp, trao đổi, thảo luận giữa con người với nhau.
Có rất nhiều định nghĩa được các học giả đưa ra về “truyén thong”, có thê ké đến một số định nghĩa sau: Theo John R. Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời. Ordway Tead (1959) nhận định “TZruyén thông là sự tổng hợp của thông tin đưa đi và nhận lại về kiến thức kinh nghiệm nào đó nhằm thay đổi thái độ, kiến thức và kỹ năng, kéo theo đó là sự thay đổi về hành vi. Nó gồm những nỗ lực lang nghe của các bên tham gia, sự giám sát liên tục các vấn đề của người giao tiếp và sự trao đổi nhạy bén các quan điểm cá nhân nhằm đạt đến mức độ cao hon của sự hiểu biết chung và đạt được những mục tiêu chung ”.
Theo Gerald Miler (1966) cho rằng truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ. Fank Dance (1970) định nghĩa: Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người. Tức truyền thông giúp phá vỡ tính độc quyền và quá trình truyền thống có thể bỏ qua tính chuyên quyền. 18 Hai tác giả William Newman và Charles Summer (1977) đưa ra khái niệm truyền thông là sự trao đối các ý tưởng, sự việc, quan điểm hay cảm xúc của hai hoặc nhiều người.
Hầu hết các khái niệm về truyền thông đã đề cập đến những đặc tính nổi bật nhất của truyền thông. Trong nghiên cứu của mình, sau khi cân nhắc những mặt được và chưa được của định nghĩa truyền thông do các học giả trước đó đưa ra, Rodriques (1992) đã đưa ra nhận định sau: “Truyén thông có thé được định nghĩa là một sự trao đổi và sự sao chép chính xác những suy nghĩ, cảm xúc, sự việc, niềm tin và ý tưởng giữa các cá nhân thông qua một hệ thống các biểu tượng chung nhằm tạo ra những thay doi trong hành vi”. Từ các quan niệm trên đây và thực tiễn vận động của truyền thông, PGS TS Nguyễn Văn Dững đưa ra một định nghĩa chung nhất về truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình trao đổi liên tục thông tin, tư tưởng, tình cảm., chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai người hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hop với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bên vững” [11, tr. 15] Thông điệp truyền thông trên báo chí * Khái niệm Thông điệp là một trong những yếu tố không thể thiếu của quá trình truyền thông.
Thông qua thông điệp, người ta có thé thâu hiểu nhau nhưng đồng thời cũng gây ra những hiểu lầm bởi nội dung truyền đạt hoặc hình thức thể hiện nội dung thông điệp. Với tầm quan trọng như vậy, nghiên cứu thông điệp truyền thông là một trong những nội dung chủ chốt khi nghiên cứu truyền thông. “Thông điệp (message) là thông tin cần truyền di, được mã hóa dưới dạng ngôn ngữ nhất định như: hội họa, điêu khắc, lời văn, điệu nhảy. Thông điệp là yếu tố thứ 2 của quá trình truyền thông.
Thông điệp có thé băng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ 19 tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng ngôn ngữ mà người cung cấp (nguồn phat) và người tiếp nhận điều hiểu được. Có thé là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ trong khoa học kỹ thuật hay ngôn ngữ văn học nghệ thuật. Bằng bất cứ cách nào, một thông điệp nào đó cũng phải được diễn tả bằng ngôn ngữ hiểu được thì mới có ý nghĩa truyền thông.
Thông điệp trong truyền thông trả lời cho câu hỏi “ndi cái gì?”. Thông điệp là “những ý kiến, cảm xúc suy nghĩ, trạng thái hay thái độ. được truyền di” [12, tr. Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến. Trong truyền thông, thông điệp được hiéu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhăm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông. * Nội dung nghiên cứu thông điệp truyền thông Hiện nay có nhiều cách khác nhau khi nghiên cứu thông điệp. Tuy nhiên, phố biến và thông dụng nhất là các phương pháp như: phân tích nội dung (Content Analysis); phân tích ký hiệu học (Semiotic Analysis) và phân tích diễn ngôn (Discourse analysis) [4, tr.
90] Phuong pháp phan tích nội dung (Content Analysis): Nghiên cứu nội dung thông điệp là một phương pháp nghiên cứu nhằm tim hiểu những động co hoặc ý định sâu xa của tác giả, những điều mà tác giả hướng đến đằng sau một văn bản một cách có ý thức hoặc không có ý thức. Ưu điểm của phương pháp phân tích nội dung là: (1) kinh phí không đáng ké; (2) việc thu thập tài liệu khá dễ dàng, ké cả tài liệu trong quá khứ; (3) không xâm phạm vào đời tư của người khác nên nên ít gây tranh luận về van đề đạo đức; (4) dễ dàng phân tích, so sánh sự kiện hiện tại và sự kiện quá khứ (với điều kiện bằng chứng van còn hiện hữu); (5) thích hợp với quan lý lượng dữ liệu lớn. 20 Nhược điểm của phương pháp phân tích nội dung: (1) không chắc chắn về tính đại diện của mẫu được chọn; (2) việc lập ra một hệ thống phân loại hoàn toàn kín sẽ rất khó có thê thực hiện bởi càng phân loại nhỏ lẻ và chỉ tiết thì càng kém giá trị; (3) khó thiết lập đơn vị đo lường; (4) khó khăn trong việc diễn giải và hiểu thông điệp. Các kết quả của phân tích nội dung không cho biết nội dung hình thành hay nội dung nhận được phản hồi gì từ người nhận — một điều rat quan trọng khi phân tích hiệu ứng lan tỏa của thông điệp Phương pháp phân tích ký hiệu học (Semiotic Analysis): Phân tích ký tự thông điệp là đánh giá một thông điệp qua các ky tự mã hóa — phân tích những thành phần nhỏ nhất của thông điệp.
Vì vậy, phương pháp này có giá trị đặc biệt khi nghiên cứu các thông điệp truyền thông ngắn gọn, súc tích. Việc phân tích ký tự phù hợp và tương đối hiệu quả với phân tích thông điệp trên truyền hình hoặc trên báo điện tử. Ký tự có thê giải quyết tất cả các hệ thống kĩ thuật, thông qua việc chia nhỏ các thành phần mã hóa, rồi chuyền thành ký hiệu. Ưu điểm của phân tích ký tự: (1) có thé áp dụng đối với các mẫu nhỏ va không yêu cầu phải có tính đại diện cao; (2) với các mẫu nhỏ có thê xử lý được các hệ thống ký hiệu phức tạp như phim hay truyền hình, sử dụng cả hình động và tính cùng các lớp âm thanh; (3) vì ký tự là thành phần nhỏ nhất của thông điệp nên việc phân loại và thiết lập đơn vị đo lường có thé được phát triển dựa trên các dit liệu đang được phân tích.
Nhược điểm của phương pháp phân tích ký tự: (1) không phù hợp với các mau lớn, mat nhiều thời gian dé phân tích mẫu lớn; (2) đôi khi van đề phân loại cũng gặp khó khăn. Phương pháp phân tích diễn ngôn (Discourse analysis): Trong diễn ngôn, không chỉ phân tích ngôn ngữ nội tại mà còn phân tích những thứ ngoài ngôn ngữ. Vì vậy, người làm truyền thông có thé vận dụng phương pháp phân tích cấu trúc (structural analysis) và hậu cấu trúc (Post-structuralist analysis) dé phân tích diễn ngôn. 21 Phương pháp phân tích diễn ngôn theo thuyết cấu trúc giúp trả lời câu hỏi làm thế nào cấu trúc của diễn ngôn tạo ra ý nghĩa.
Phương pháp này đem lại khả năng phân tích diễn ngôn một cách hiệu quả, thường áp dụng đối với các văn bản có dung lượng lớn như các bộ phim truyền hình dài tập, các chương trình truyền hình nhiều kỳ Đối với phương pháp phân tích diễn ngôn theo theo chủ nghĩa hậu cau trúc cũng mở ra một hướng mới trong việc nghiên cứu diễn ngôn. Hậu cấu trúc khang định rằng, khán giả không giải mã một ý nghĩa sẵn có trước đó mà họ xây dựng thông điệp trong quá trình đọc: những nhà nghiên cứu hậu cấu trúc luận tìm kiếm để hiểu cách mà thông điệp được hình thành trong phạm vi ngữ cảnh văn hóa. Đồng thời, khang định văn bản xây dựng dựa trên tương tác của văn bản với khán giả thay vì được cô định sẵn trong văn bản. Với cách tiếp cận này, các nhà phân tích đã có cái nhìn mới mẻ về tin tức, truyền hình và các sản phâm truyền thông.
Khai niệm và đặc trưng của báo điện tir Khái niệm Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo điện tử này: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử. PGS TS NGuyễn Văn Dững định nghĩa: “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí — truyền thông tôn tại, phát triển trên mạng internet toàn câu. Là kênh truyén thông đặc thù ra doi sau, báo mạng điện tu đã hội tụ được nhiều uu điểm nồi trội của các kênh truyén thông trước đó, đồng thời cũng lộ những bắt cập”. 23] Mặc dù có nhiều cách gọi, song cách gọi báo điện tử là được sử dụng thông dụng nhất hiện nay.
Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tw”.