Chương 1: Khái quát về từ Hán Việt trong quá trình phát triển của tiếng Việt. Nội dung chƣơng này nhằm giới thiệu sơ lƣợc về nguồn gốc của sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam và vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt. - Chương 2: Nhóm từ Hán Việt có sự chuyển đổi nghĩa. Nội dung chƣơng này, nhằm tìm hiểu nguyên nhân có sự sai biệt nghĩa, khảo sát, thống kê và phân loại từ Hán Việt các từ Hán Việt chuyển đổi cách sử dụng.
- Chương 3: Cách dùng từ Hán Việt của ngƣời Việt hiện nay. Nội dung chƣơng này sẽ tìm hiểu xu hƣớng sử dụng từ Hán Việt của ngƣời Việt và các lỗi sai khi dùng từ Hán Việt hiện nay. 5 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ HÁN VIỆT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TIẾNG VIỆT Cho đến nay, vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam vẫn còn một số tranh luận, do vậy, vấn đề về nguồn gốc tiếng Việt cũng khó có thể khẳng định một cách chính xác. Về nguồn gốc tiếng Việt, trƣớc đây ít có nhà nghiên cứu nào nhắc đến, mãi cho đến gần đây mới có một số học giả đã đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nhƣ: Lê Ngọc Trụ, Đào Trọng Đủ… Học giả Henri Maspéro có nhận định tƣơng đối hợp lý và thực tế hơn: “Tiếng Việt Nam ngày nay là kết quả trại lẫn của nhiều thứ tiếng” [22, tr.
Hiện nay, có nhiều học giả đƣa ra các học thuyết khác nhau về từ Hán Việt. Tuy chƣa đi đến đƣợc những kết luận dứt khoát, thỏa đáng, nhƣng trong tình hình nghiên cứu hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đang hƣớng sự tìm tòi suy nghĩ vào một hệ thống ngôn ngữ rộng lớn, hình thành từ xa xƣa, hoạt động trên một địa bàn rộng, bao trùm cả bán đảo Đông Dƣơng và những miền lân cận, đƣợc gọi là hệ ngôn ngữ Nam Á, bao gồm nhiều nhóm ngôn ngữ nhƣ: Môn – Khmer, Việt - Mƣờng, Thái. Theo Phan Ngọc trong cuốn Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á thì: Như nhiều người đã biết, bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á hiện nay rất đa dạng và việc tiếp xúc ngôn ngữ liên tục diễn ra chằng chéo làm cho nhà nghiên cứu như bước vào một mê cung khó tìm được lối ra. Việc sắp xếp các ngôn ngữ theo dòng họ hết sức không rõ ràng.
Gần một thế kỷ nay, người ta cứ tranh cãi mà không đi đến những kết luận dứt khoát về một hiện tượng khá phổ biến: có một số ngôn ngữ không sắp xếp vào đâu cho thỏa đáng. Tiếng Việt thuộc dòng Môn – Khmer hay Tày - Thái? Nhóm Mèo – Dao thuộc dòng Tạng hay Nam Á? [12, tr. 84] và “Người ta dễ nhận ra cơ chế tiếng Việt thuộc dòng ngôn ngữ Tày - Thái đó là ngôn ngữ đơn tiết, có thanh điệu” [12, tr. Việc vay mƣợn tiếng nƣớc ngoài để làm giàu tiếng nƣớc mình thì bất cứ dân tộc nào trên thế giới đều có.
Ở Việt Nam cũng nhƣ thế, ngƣời Việt đã vay mƣợn tiếng nƣớc ngoài để làm giàu cho tiếng Việt nhƣ: Pháp, Anh, Nga. đặc biệt là tiếng Hán. Khi từ Hán đƣợc du nhập vào Việt Nam, ngƣời Việt đã Việt hóa những từ Hán đó để ngày nay, chúng ta gọi những từ đó là từ Hán Việt. Cùng với tiếng Việt, tiếng Hán cũng là một ngôn ngữ đơn tiết và có thanh điệu nên sự tiếp xúc ngôn ngữ dễ dàng xảy ra và hiện tƣợng vay mƣợn cũng là một điều 6 không đáng ngạc nhiên.
Có rất nhiều từ thông dụng mà chúng ta cho rằng là đó từ thuần Việt, thực ra chúng cũng mang gốc Hán: “ông”, “bà”, “cha”, “mẹ”, “bác”, “chú”, “thím”, “dì”, “áo”, “quần”, “ghế”. Khái quát về từ Hán Việt Từ Hán Việt là những từ gốc Hán thâm nhập vào Việt Nam bằng cả con đƣờng chiến tranh (cƣỡng bức) lẫn con đƣờng hoà bình (giao lƣu văn hoá). Từ TK I trƣớc công nguyên, ngƣời Hán đã đặt quyền thống trị trên đất Giao Châu và chính thức chấm dứt sự đô hộ ấy là vào thế kỷ X sau công nguyên. Trong suốt khoảng một ngàn năm này, một khối lƣợng lớn từ gốc Hán đã đƣợc du nhập vào trong vốn từ của ngƣời Việt.
Hơn nữa, từ sau khi độc lập vào năm 938 đến giữa thế kỷ XIX (thời kỳ bắt đầu tiếp nhận văn hoá phƣơng Tây), Việt Nam vẫn luôn học tập những thành tựu văn minh Trung Hoa, đặc biệt là về lĩnh vực chính trị, văn học nghệ thuật. Nhƣ vậy, trong khoảng hai ngàn năm ấy, yếu tố Hán vẫn thƣờng trực tác động đến văn hoá Việt, trong đó, lớp từ gốc Hán (đƣợc ngƣời Việt đọc theo khẩu âm Việt, gọi là từ Hán Việt) là một minh chứng điển hình. Và một điều tất yếu xảy ra là từ thuần Việt và từ Hán Việt cùng tồn tại trong hệ thống tiếng Việt. Trƣớc khi chữ Quốc ngữ ra đời, ngƣời Việt phải dùng chữ Hán để viết nhƣng đọc theo kiểu khẩu âm Việt (chữ Nôm cũng dựa vào chữ Hán nhƣng phức tạp hơn và chƣa đƣợc chuẩn hóa nên vẫn chƣa có đủ cơ hội để đƣợc trở thành dạng chữ viết phổ cập trong toàn xã hội).
Vì vậy, nhà nƣớc phong kiến Việt Nam đã sử dụng chữ Hán trong các văn bản hành chính quốc gia trong suốt quá trình tồn tại. Theo Đặng Đức Siêu (trong cuốn “Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông”) thì “Từ Hán Việt là một thực thể vừa quen vừa lạ”. Và ông đã giải thích nhƣ sau: “Trước hết, là quen bởi vì các vỏ ngữ âm của nó đã được Việt hóa đến cao độ nên không xa lạ gì với ngữ cảm, với cảm quan thính giác của người Việt chúng ta. Còn lạ, chủ yếu là do kết cấu ngữ nghĩa của từ Hán Việt.
Những từ như: cứu cánh, bình sinh, tỏa chiết, nhân thân, trầm kha. chẳng hạn, tuy cũng thường xuyên xuất hiện trong lời nói, trên văn bản, nhưng chẳng phải là dễ hiểu đối với tất cả mọi người” [15, tr. Nhƣ vậy, để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về từ Hán Việt và có thể sử dụng một cách hiệu quả thì trƣớc hết, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về Hán tự. Thứ nhất: về thể chữ, 7 Hán tự là dạng chữ viết tƣợng hình đƣợc ngƣời Trung Hoa sử dụng nhiều thế kỷ; và hiện nay còn đƣợc phổ biến rất rộng rãi.
Thứ hai: về dạng chữ, trên cơ bản, cho đến hiện nay có hai dạng chữ: giản thể (sử dụng ở Trung Quốc đại lục, trừ Quảng Đông) và phồn thể hay giản thể (sử dụng ở Đài Loan). Riêng ở Việt Nam, vì sau cuộc vận động Ngũ Tứ 1919, chữ giản thể mới bắt đầu xuất hiện, trong khi Việt Nam lại dần dần chuyển hƣớng giao lƣu từ văn hoá Trung Hoa sang văn hoá phƣơng Tây nên các học giả ít ngƣời biết lối giản thể. Có nghĩa là, trong khi văn chƣơng Trung Hoa đã thay đổi rất nhiều với lối văn bạch thoại thì chúng ta vẫn sử dụng với lối văn cổ điển và chủ yếu những từ Hán đời Đƣờng. Những từ Hán này đƣợc phát âm theo lối riêng của ngƣời Việt nên đƣợc gọi là từ Hán Việt; cách đọc những từ ấy đƣợc Nguyễn Tài Cẩn gọi là “cách đọc Hán Việt”.
Ngƣời Việt mƣợn chữ Hán của Trung Quốc chủ yếu ở thời cổ đại, điển hình nhất là thời Đƣờng- Tống. Chữ Hán thời này có thể chữ phức tạp (chữ phồn thể), lối hành văn cũng mang tính sách vở (dùng nhiều từ có nghĩa trừu tƣợng, khó hiểu, mang tính chất bác học cao). Do hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc ấy mà chữ Hán ở giai đoạn này có sự xâm nhập và ảnh hƣởng lớn đến các nƣớc lân cận nhƣ Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Chữ Hán khi xâm nhập vào các nƣớc đã đƣợc biến đổi về âm đọc theo phong ngôn của nƣớc đó và các tổ chức quan phƣơng dùng làm văn tự chính thống của mỗi nƣớc.
Ở Việt Nam, trong suốt thời kỳ phong kiến, ngƣời Việt đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thống của mình. Đồng thời, nhằm thể hiện sự độc lập tự chủ, một số thành phần trí thức Việt đã dùng chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Về thuật ngữ “từ Hán Việt”, từ trƣớc đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Họ đã có nhiều bài viết để trực tiếp hoặc gián tiếp đƣa ra nhận định riêng của mình về khái niệm của từ Hán.
Theo đó, chúng ta thƣờng hay nhầm lẫn giữa “từ Hán Việt” và “tiếng Hán Việt”. Nhƣ vậy, “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [9, tr. Và khi ngƣời Việt phát âm các âm tiết để tạo nên chuỗi lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, đơn vị đƣợc dùng trong chuỗi lời nói là “tiếng”. “Tiếng là giọng nói riêng của một người hay cách phát âm của một vùng nào đó” [9, tr.
Nhƣ vậy, giữa “từ Hán Việt” và “tiếng Hán Việt” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. 8 Năm 1972, trong công trình Văn phạm Việt Nam (Giản dị và thực dụng), Bùi Đức Tịnh đã nêu một cách hiểu đơn giản về tiếng Hán Việt nhƣ sau: “Có thể định nghĩa một cách giản dị rằng tiếng Hán Việt là những tiếng Hán phát âm theo lối Việt. Ban đầu nó là những chữ Hán mà khi học trong sách Trung Hoa, các nhà tri thức nước ta đọc trại đi theo giọng Việt. Năm 1979, trong chuyên luận về tiếng Việt lịch sử với tiêu đề là Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn đã nêu lên tầm quan trọng của từ Hán Việt và những điều kiện lịch sử, văn hoá cho quá trình hình thành tên gọi, cách đọc từ Hán Việt.
Theo Nguyễn Tài Cẩn thì“Chữ Hán (hay còn gọi là chữ Nho) vốn là một nền văn tự do người Hán sáng tạo ra cách đây khoảng trên 3000 năm, khi người Hán đang còn đóng khung địa bàn cư trú của mình trong vùng đất thuộc lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị” và “Cách đọc Hán Việt thường được giải thích là lối đọc chữ Hán riêng của Việt Nam, người Việt chuyên dùng khi đọc các văn bản tiếng Hán” [3, tr. Nhƣ vậy, qua công trình của mình, Nguyễn Tài Cẩn chỉ đƣa ra một số ý kiến về chữ Hán và cách đọc Hán Việt của ngƣời Việt nhƣng cũng chƣa đƣa ra định nghĩa cụ thể về từ Hán Việt.