Chương 1 Thể chế và cơ chế chính sách xuất khẩu gạo 1.1- Lịch sử thể chế và cơ chế chính sách xuất khẩu gạo của Việt Nam5 Đối với Việt Nam, gạo là lương thực chính trong khẩu phần ăn của hầu hết mọi người dân, chiếm tỉ trọng lớn trong chi tiêu hàng ngày của các hộ gia đình nghèo ở nông thôn và thành thị. Tuy là quốc gia có lợi thế về sản xuất nông nghiệp nhưng lại từng lâm vào cảnh thiếu hụt lương thực hết sức gay gắt. Thời kỳ sau khi kết thúc chiến tranh cho đến trước 1989, Việt Nam năm nào cũng phải nhập khẩu từ 500.000 tấn đến 1 triệu tấn gạo/năm, thậm chí có năm như 1979 nhập gần 2 triệu tấn (số liệu trích từ Nghị quyết NQ9-CP ngày 9/1/1980). Mặt hàng gạo vì vậy rất nhạy cảm về chính trị xã hội, luôn được coi là hàng hóa chiến lược quan trọng và được quan tâm quản lý sâu sát.
Chính phủ luôn đóng vai trò quan trọng trong ngành hàng này, vừa là người đề ra luật chơi nhưng cũng đồng thời là người tham gia trực tiếp cuộc chơi. Chính sách xuất khẩu gạo của Việt Nam nhìn chung luôn vận động phát triển và có mối quan hệ mật thiết với bối cảnh lịch sử và kinh tế đất nước qua từng thời kỳ; là hệ quả của các chính sách chung về kinh tế xã hội, về thương mại cũng như các chính sách về nông nghiệp lương thực của Chính phủ. Về mặt thể chế, nó là một phần cấu thành thống nhất trong thể chế chung về hoạt động xuất nhập khẩu của Chính phủ, bao gồm hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp điều hành của Chính phủ trong một năm hay trong từng thời kỳ cụ thể. 5 Các văn bản pháp qui nêu trong chương này có nguồn gốc và truy cập được từ Chính phủ (2010); danh mục các văn bản chủ yếu được liệt kê theo phụ lục 3.
8 Qua nghiên cứu cơ sở dữ liệu các văn bản pháp quy của Chính phủ và các Bộ ngành liên quan từ năm 1980 đến nay cho thấy, thể chế cơ chế chính sách xuất khẩu gạo Việt Nam đã trải qua các thời kỳ với những đặc điểm rất rõ nét. Thời kỳ trước đổi mới (1975-1985) Theo Quyết định 113-HĐBT ngày 10/7/1982 của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, gạo thuộc danh mục mặt hàng do trung ương quản lý thống nhất và tập trung về xuất nhập khẩu. Về cơ chế thực hiện, theo Nghị quyết 99-HĐBT ngày 1/6/1982, việc xuất nhập khẩu được thực hiện theo kế hoạch và theo các cam kết quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa, thông qua Bộ Lương thực và Bộ Ngoại thương. Hoạt động xuất nhập khẩu gạo thời kỳ này chủ yếu là nhập khẩu để bù đắp phần thiếu hụt trong nước.
Thời kỳ đầu Đổi mới (1986-1990) Theo Quyết định số 305/CT ngày 30-11-1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, gạo thuộc loại mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu quan trọng chủ yếu. Xuất nhập khẩu gạo được quản lý thông qua việc cấp hạn ngạch trong từng thời gian nhất định và bằng việc cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu. Hoạt động xuất nhập khẩu gạo từ khâu ký kết hợp đồng giao dịch cho đến tổ chức thực hiện, hoàn toàn do các tổ chức nhà nước đảm nhiệm. Năm 1989 lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo ra thị trường thế giới.
Thời kỳ đẩy mạnh đổi mới và hội nhập quốc tế (1991- 1995) Theo Nghị định số 114/HĐBT ngày 7/7/1992 của Hội Đồng Bộ Trưởng và Quyết định 405/TM-XNK ngày 13/4/1993 của Bộ Thương mại về công bố danh mục mặt hàng, gạo thuộc mặt hàng xuất khẩu quản lý bằng hạn ngạch, do Nhà nước chỉ định các doanh nghiệp làm đầu mối xuất khẩu và phải được Bộ Thương mại duyệt về số lượng trước khi ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương 9 với nước ngoài. Thời kỳ này, có hơn 50 doanh nghiệp nhà nước được chỉ định trực tiếp xuất khẩu gạo, trong đó có 15 doanh nghiệp xuất hơn 50.000 tấn/năm chiếm 82% tổng lượng gạo xuất khẩu của năm (số liệu trích từ Thông tư 02- TTLB/NN-TM ngày 6/2/1995). Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới (từ 1996 đến hiện nay) Giai đoạn 1996-2000 Theo Nghị định số 57/1998 ngày 31/7/1998 của Chính phủ, gạo thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu có điều kiện, quản lý bằng hạn ngạch, hoạt động xuất khẩu gạo được điều hành chặt chẽ từng quí tháng bởi Bộ Thương mại. Để được phân bổ hạn ngạch và xuất khẩu gạo, doanh nghiệp phải là doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo.
Từ năm 1999, bắt đầu có sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Số doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo trực tiếp chính thức là 41 doanh nghiệp gồm đủ các thành phần kinh tế, trong đó số lượng chủ đạo vẫn là doanh nghiệp nhà nước với 30/41 doanh nghiệp, chiếm tỉ lệ 73%, với tổng lượng gạo xuất khẩu hơn 90% (số liệu trích từ Thông tư 22/1998/TT-BTM ngày 30/12/1998). Cũng từ năm 1999 việc điều hành xuất nhập khẩu gạo hàng năm được thực hiện theo văn bản chỉ đạo riêng của Thủ tướng (trích Quyết định số 254/1998/QĐ-TTg ngày 30/12/1998). Ngoài các văn bản pháp luật điều chỉnh chung như Luật thương mại, Nghị định của Chính phủ.mỗi đầu năm Thủ tướng đều có văn bản chỉ đạo cụ thể về công tác điều hành xuất khẩu gạo của năm đó, nội dung bao gồm tổng hạn ngạch xuất khẩu, hướng phân giao hạn ngạch cho các địa phương đơn vị.
10 Giai đoạn 2001- hiện nay Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/4/2001 “Về quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001- 2005”, Nghị định số 44/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/8/2001 “Về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998”, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/1/2006 “Về quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại (ngày 14/6/2005) về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài”, lần đầu tiên cơ chế xuất nhập khẩu được ban hành ổn định trong thời gian 5 năm và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Về quản lý xuất khẩu gạo, bãi bỏ cơ chế phân giao hạn ngạch xuất khẩu gạo và việc quy định doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều được xuất khẩu gạo nếu có đăng ký kinh doanh ngành hàng lương thực hoặc nông sản. Nhà nước giao lại cho Hiệp hội lương thực Việt Nam vai trò điều phối trong hoạt động xuất khẩu gạo.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gạo luôn có sự giám sát chặt chẽ của Tổ Công tác điều hành xuất khẩu gạo liên Bộ, đặc biệt Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét và quyết định các biện pháp cần thiết, can thiệp trực tiếp vào thị trường lúa gạo khi thị trường trong ngoài nước có biến động, nhằm bảo đảm lợi ích nông dân trồng lúa, ổn định sản xuất nông nghiệp và thị trường trong nước.2- Cơ chế chính sách xuất khẩu gạo hiện hành 1.1- Về chính sách xuất khẩu gạo Chính sách xuất khẩu gạo hiện hành được điều chỉnh bởi Luật thương mại ban hành ngày 14/6/2005, Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 “Quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và 11 các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài”. Ngoài ra là các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ theo từng năm, từng kỳ, nhằm định hướng và điều chỉnh tổng hạn mức xuất khẩu gạo cả năm, như công văn số 221/TTg-KTTH ngày 04/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ “Về điều hành xuất khẩu gạo năm 2010”, công văn số 215/TTg-KTTH ngày 10/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ “Về điều hành xuất khẩu gạo năm 2009”, Quyết định số 266/TTg ngày 21/2/2008 “Về điều hành xuất khẩu gạo năm 2008”.2- Về các cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan 1.1- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các địa phương có sản xuất gạo hàng hóa lớn, Bộ Công Thương và Hiệp hội lương thực Việt Nam, cân đối nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, chỉ đạo sản xuất nông nghiệp để có sản phẩm gạo phù hợp nhu cầu thị trường trước mắt và lâu dài, đề xuất với Thủ tướng về số lượng gạo xuất khẩu hàng năm.2- Bộ Công Thương Bộ Công Thương chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động xúc tiến, phát triển thị trường xuất khẩu gạo, chủ trì cùng các cơ quan hữu quan và Tổ điều hành xuất khẩu gạo theo dõi tình hình kinh doanh xuất khẩu, thị trường lúa gạo trong ngoài nước và chủ động xử lý các vấn đề phát sinh, kịp thời báo cáo Thủ tướng giải quyết các vấn đề vượt thẩm quyền.3- Bộ Tài chính Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với Hiệp hội lương thực tổ chức hệ thống thông tin, cập nhật định kỳ về giá thành sản xuất lúa, giá bán lúa 12 của nông dân trồng lúa, giá gạo lưu thông trong nước và giá thu mua gạo xuất khẩu để phục vụ công tác điều hành sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu lúa gạo; đề xuất với Thủ tướng các chính sách can thiệp thị trường gạo trong nước khi có biến động.4- Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm chỉ đạo các Ngân hàng thương mại cân đối nguồn vốn cho vay, đề xuất áp dụng các chính sách cho vay vượt mức, hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi thực hiện các hợp đồng lớn hay khi mua lúa gạo tồn trữ bình ổn thị trường theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.5- Ủy ban nhân dân các tỉnh có sản xuất gạo hàng hóa lớn Phối hợp với các Bộ ngành, cơ quan hữu quan tổ chức chỉ đạo và theo dõi tình hình sản xuất nông nghiệp, tình hình thu mua lúa của nông dân trồng lúa trên địa bàn.6- Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo liên Bộ Thường được gọi tắt là Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo hay Tổ điều hành xuất khẩu gạo, thành lập theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 7583/VPCP-KTTH ngày 28/12/2006, dựa theo tổ chức tiền thân các năm trước là “Ban chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón”, do một Thứ trưởng Bộ Thương mại nay là Bộ Công Thương làm tổ trưởng, thành viên gồm đại diện các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh có sản lượng lúa hàng hóa lớn và Hiệp hội lương thực Việt Nam.