Chương 1 đã khái quát lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháp và quy trình thực hiện đề tài này. Chương 2 sẽ tập trung đề cập đến các cơ sở lý luận của đề tài, các khái niệm về bất bình đẳng thu nhập (BBĐTN), đầu tư trực tiếp nước ngoài, các lý thuyết chính mà đề tài căn cứ để xây dựng mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình nghiên cứu; đề tài cũng đánh giá tổng quan về tình trạng BBĐTN giữa thành thị và nông thôn trên cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng. Đồng thời, trình bày phương pháp tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến BBĐTN giữa thành thị và nông thôn, các nghiên cứu, kết luận có liên quan đến nội dung đề tài 2. Khái niệm về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.
Đầu tư Khái niệm đầu tư đã được nhiều tác giả định nghĩa với nhiều góc độ khác nhau.Sachs và Larrain (1993) thì đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế. Sản lượng ở đây có thể do nền kinh tế tự sản xuất hay do nhập khẩu từ bên n goài, có thể là các sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị, hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh, sáng chế. Trần Ngọc Thơ (2007) lại định nghĩa đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai. Theo Trần Văn Hùng và cộng sự (2004) đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi ở tương lai.
Vốn ở đây có thể là tiền, là tài sản, là sức lao động, là trí tuệ. Quá trình từ tích lũy vốn đến đầu tư được thể hiện qua 3 khâu: tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính và cuối cùng là đầu tư. Hoặc có thể hiểu đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được những kết quả đó (Luật Đầu tư, 2005) Trang 7 Nhìn chung, có rất nhiều khái niệm về đầu tư, mỗi khái niệm về đầu tư khái quát tuy có khác nhau tùy theo từng trường hợp khác nhau nhưng đều có chung ý là tạo sự sinh lợi ở tương lai. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 2005 đưa ra khái niệm “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”.
Hay FDI là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp” (IMF) Theo Đinh Phi Hổ (2010), vốn đầu tư nước ngoài: bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII), cụ thể: + Đầu tư trực tiếp (FDI): các đơn vị đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư trực tiếp vào các dự án sản xuất – kinh doanh. Theo Phan Văn Nam (2012), FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
+ Đầu tư gián tiếp (FII): với hình thức đầu tư này thì đơn vị đầu tư nước ngoài chỉ tham gia bỏ vốn đầu tư, nhưng không tham gia quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, thường được thực hiện thông qua cổ phiếu, tín phiếu,. Hay Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính của nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp, không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chật, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý.
Một cách đơn giản hơn, FPI là đầu tư tài chính thuần tùy trên thị trường tài chính (Phan Văn Nam, 2012). Trang 8 Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh (2010) nhận định có nhiều nhân tố tác động đến thu hút FDI, song có một số nhóm nhân tố chính sau: Thứ nhất, môi trường đầu tư; Môi trường đầu tư bao gồm: môi trường pháp lý minh bạch phù hợp với các chuẩn mực quốc tế; môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, lạm phát được kiểm soát tốt; môi trường xã hội; môi trường tự nhiên. Đây là nhân tố quan trọng trong thu hút FDI, bởi trong một môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, minh bạch sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, khiến các nhà đầu tư dè dặt và quan ngại trong bảo toàn vốn và thu nhập. Tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động tích cực đến việc thu hút FDI của một quốc gia.
Các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững thường thu hút FDI nhiều hơn các nước có nền kinh tế - xã hội không ổn định. Thứ hai, chất lượng cơ sở hạ tầng phải đầy đủ và đồng bộ; Hạ tầng cơ sở bao gồm hạ tầng cơ sở vật chất - kỹ thuật (hay cơ sở hạ tầng cứng) và hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội (hay cơ sở hạ tầng mềm). Hệ thống hạ tầng cơ sở liên quan đến cả các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy nó là điều kiện nền tảng để các nhà đầu tư có thể khai thác lợi nhuận. Nếu hạ tầng cơ sở yếu kém và thiếu đồng bộ thì nhà đầu tư rất khó để triển khai dự án, chi phí đầu tư tăng cao, quyền lợi của nhà đầu tư không được bảo toàn.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhà đầu tư không mặn mà trong việc đầu tư vốn của mình. Thứ ba,độ mở của nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và sự ổn định chính trị; Nền kinh tế càng mở cửa thì mức độ giao thương, buôn bán càng mạnh, các doanh nghiệp sẽ có thị trường xuất nhập khẩu lớn hơn và có nhiều cơ hội hơn trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Thứ tư, quy mô và tính chất thị trường nội địa; Đây là một trong những yếu tố tác động đến quy mô đầu tư và tổng lợi nhuận của nhà đầu tư. Để thu hút FDI ngoài tiềm năng đông dân, thì việc cải thiện đời sống, tăng thu nhập, tăng sức mua của cư dân trong nước cũng có tác động rất lớn đến thu hút FDI.
Bên cạnh đó việc gia nhập các liên kết kinh tế khu vực và thế giới cũng tạo ra thị trường rộng mở cho các nhà đầu tư và cũng là nhân tố tác động lớn đến việc quyết định địa bàn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị 2. Khái niệm về thu nhập Theo Nguyễn Trung Kiên (2012), thu nhập của một cá nhân hay hộ gia đình quy ra tiền trong một khoảng thời gian nhất định là số tiền chi cho tiêu dùng cộng với sự thay đổi giá trị của tài sản tính bằng tiền trong khoảng thời gian đó: Thu nhập = Tiêu dùng + Sự thay đổi giá trị của tài sản Các nhà kinh tế thường chỉ tập trung vào thu nhập bằng tiền: Thu nhập bằng tiền là luồng tiền mà một cá nhân hay gia đình nhận được từ mọi nguồn như lương, lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức từ vốn tài chính như tiền lãi, lãi cổ phần, chuyển giao, vv. Đơn vị đo lường phân phối thu nhập: là cá nhân, gia đình hay hộ.
Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị Bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị có thể nhìn nhận như là sự khác biệt về thu nhập thực tế giữa các nhóm dân cư của hai khu vực này. Nếu sự sai lệch càng ít thì mức độ bất bình đẳng càng thấp và ngược lại 2. Đo lường bất bình đẳng Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), theo cách tiếp cận qui mô các nhà kinh tế và thống kê thường sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành các nhóm. Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có qui mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập (ngũ phân vị).
Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập. Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình, thì hai mươi phần trăm gia đình có thu nhập cao nhất sẽ nhận tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì. Khi đo lường mức độ bất bình đẳng, một cách áp dụng khá hiệu quả cách định lượng này là tính chỉ tiêu tỉ lệ thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất. Trang 10 Một cách tiếp cận khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng đường Lorenz trong đó trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỉ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng.
Đường chéo được vẽ từ gốc tọa độ biểu thị tỉ lệ phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập. Nói cách khác, đường chéo đại diện cho sự “công bằng hoàn hảo” của phân phối thu nhập theo qui mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau. Còn đường cong Lorenz biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận được. Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất.
Đường Lorenz càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng.