Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương trình bày lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mô tả tổng quát các phương pháp áp dụng, ý nghĩa và điểm mới của đề tài cũng như bố cục nghiên cứu. Trình bày về xây dựng bảng dữ liệu, cách thức, phương pháp thu thập dữ liệu phục vụ quá trình nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu. 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các tác động đến lượng phát thải CO2 thông qua đầu tư FDI Chương trình bày khái niệm, các loại hình phát thải và cách đo lường khí CO 2 ; khái niệm, phân loại, các hình thức đầu tư, tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến môi trường; cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến lượng phát thải CO2 để từ đó xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến lượng phát thải CO2 thông qua đầu tư FDI Chương khái quát thực trạng phát thải CO2 tại Việt Nam trong giai đoạn 1993-2023.
Trình bày kết quả phân tích, trong đó xem xét các yếu tố tác động đến lượng phát thải CO2 thông qua đầu tư FDI. Từ đó lựa chọn mô hình thích hợp diễn giải kết quả; kết luận chấp thuận hay bác bỏ giả thuyết đã xây dựng. Chương 4: Định hướng và giải pháp cải thiện các yếu tố tác động nhằm làm giảm lượng phát thải CO2 khi đầu tư FDI Trên cơ sở phân tích kết quả từ chương 3 và bối cảnh thực tế, nhóm tác giả đề xuất định hướng và một số giải pháp cải thiện các yếu tố tác động nhằm làm giảm lượng phát thải CO2 khi đầu tư FDI. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG PHÁT THẢI CO2 THÔNG QUA ĐẦU TƯ FDI 2.
Khí thải CO2 2. Khái niệm CO2 (Carbon dioxide) (các tên gọi khác như than khí, anhydrit cacbonic, khí cacbonic). Là một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được viết theo công thức hóa học là CO2. CO2 ở điều kiện thường có dạng khí và có nồng độ thấp trong khí quyển Trái Đất.
Còn trong dạng rắn, nó được gọi là băng khô, gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử oxy. Khí CO2 được dùng để làm lạnh, bảo quản thực phẩm, tạo ra nước soda và nhiều sản phẩm khác. Ngoài ra CO2 có vai trò trong quá trình quang hợp của thực vật và trong chu trình phát thải cacbon của Trái Đất. Khí CO2 có tác dụng vô cùng quan trọng trong việc duy trì nhiệt độ Trái Đất, tạo ra sự chuyển hóa của các chất hữu cơ và tham gia vào nhiều quá trình công nghiệp khác.
Các nhà khoa học quan tâm đến mức carbon dioxide (CO2) trong khí quyển Trái Đất bởi vì nó có tác động đến hiệu ứng nhà kính. Mức này đã tăng lên đáng kể trong thế kỷ 21, tăng trung bình 2,0 ppm/năm trong giai đoạn 2000–2009 và có dấu hiệu tăng nhanh hơn kể từ khi đó. Trước thời đại công nghiệp mật độ này bằng 280 ppm, nhưng tăng lên tới 400 ppm (phần triệu) tính đến năm tháng 5 năm 2013,do chủ yếu từ những nguồn hoạt động của con người ảnh hưởng lên môi trường. Khoảng 57% lượng khí thải CO2 làm tăng mật độ của nó trong khí quyển, những phần còn lại đa số làm axít hóa đại dương.
Quá trình quang hợp tiêu thụ carbon dioxide (ở thực vật và sinh vật quang tự dưỡng), và nó cũng là một trong các loại khí nhà kính. Mặc dù mật độ tập trung của CO2 là khá nhỏ so với các khí khác trong khí quyển, CO2 là nhân tố quan trọng của khí quyển Trái Đất bởi vì các phân tử CO2 hấp thụ và phát xạ tia hồng ngoại tại bước sóng 4,26 µm (trong mode dao động giãn bất đối xứng) và 14,99 µm (mode dao động uốn), và vì vậy đóng vai trò quan trọng trong hiệu ứng nhà kính. Mức hiện tại cao hơn bất kỳ thời gian nào trong 800.000 năm trước, thậm chí khả năng cao hơn hẳn trong 20 triệu năm qua. Các loại hình phát thải khí CO2 Khí CO2 có thể được sinh ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau: 11 - CO2 được sinh ra từ hoạt động hô hấp của con người và động vật, quá trình quang hợp của thực vật.
- Từ sự phân hủy xác động vật. - Do núi lửa phun trào, sinh ra nhiều khói bụi chứa khí CO2. - Các hoạt động của con người: • Đốt cháy các nguyên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ và khí tự nhiên để sản xuất năng lượng điện, giao thông và công nghiệp. • Chặt phá rừng để lấy gỗ, nuôi trồng cây và xây dựng đô thị.
• Nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, gây ra sự phân hủy của các chất hữu cơ và sự thoát ra của các khí metan và nitơ oxid. • Quá trình sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp như thép - xi măng, nhựa và giấy. • Quá trình xử lý rác thải và nước thải. - Dân số tăng quá nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng góp phần không nhỏ vào lượng khí thải CO2 này.
Cách đo lường khí CO2 Có nhiều phương pháp để đo lường khí CO2, tùy thuộc vào mục đích sử dụng và độ chính xác mong muốn. Dưới đây là một số phương pháp phổ biến: - Máy đo khí CO2 cầm tay: Đây là phương pháp đơn giản và phổ biến nhất để đo nồng độ CO2 trong không khí. Máy đo CO2 cầm tay sử dụng cảm biến hồng ngoại để đo lượng khí CO2 trong môi trường xung quanh. - Máy phân tích khí thải: Máy phân tích khí thải được sử dụng để đo nồng độ khí CO2 trong khí thải công nghiệp.
Máy phân tích khí thải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đo nồng độ CO2 bao gồm: Phân tích quang phổ, Sắc ký khí, Điện hóa. - Hệ thống giám sát khí CO2: Hệ thống được sử dụng để đo nồng độ CO2 liên tục trong một khu vực nhất định và thường được sử dụng trong các nhà máy, văn phòng, trường học và các khu vực công cộng khác. - Phương pháp hóa học: Phương pháp hóa học sử dụng dung dịch hóa học để đo nồng độ CO2 trong nước và thường được sử dụng trong các phòng thí nghiệm để đo nồng độ CO2 trong các mẫu nước. 12 Việc lựa chọn phương pháp đo lường khí CO2 phụ thuộc vào các yếu tố như: Mục đích sử dụng, độ chính xác mong muốn, ngân sách,.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác ý định quản lý nó. Quyền kiểm soát (control- tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán. Theo các chuẩn mực của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI được định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn.
Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Theo OECD: Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Hai định nghĩa trên nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của chủ thể cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ thể khác cư trú ở nước khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này.
Khái niệm của WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền kiểm soát tài sản đó. Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác. Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này". 13 Luật Đầu Tư năm 2005 tại Việt Nam có đưa ra khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài” nhưng không đưa ra khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”.
Tuy nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Tóm lại có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. FDI có thể hiểu theo hai nghĩa FDI vào (người nước ngoài nắm quyền kiểm soát các tài sản của một nước A) hoặc FDI ra (các nhà đầu tư nước A nắm quyền kiểm soát các tài sản ở nước ngoài). Nước mà ở đó chủ đầu tư định cư được gọi là nước chủ đầu tư (home country); nước mà ở đó hoạt động đầu tư được tiến hành gọi là nước nhận đầu tư (host country).
Đặc điểm FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: theo cách phân loại ĐTNN của nhiều tài liệu và theo quy định của luật pháp nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân.