Chương 1 là giới thiệu: Chương này trình bày sơ lược về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đốị tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa, hạn chế của đề tài và kết cấu luận văn. 3 Chương 2 là cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, giới thiệu tổng quan về lý thuyết đầu tư và tăng trưởng, giới thiệu ngắn gọn về các nghiên cứu trước có liên quan đến tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế, đề xuất các mô hình nghiên cứu. Chương 3 là thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế vùng duyên hải miền Trung (DHMT): Chương này trình bày khái quát về tình hình kinh tế xã hội của vùng DHMT, phân tích thống kê, mô tả về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài và các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế, việc làm, xuất khẩu. Chương 4 là phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích định lượng: Chương này trình bày về phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu, mô hình nghiên cửu và dữ liệu nghiên cứu.
Trình bày kết quả nghiên cứu thông qua phương pháp tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM), lựa chọn mô hình tối ưu thông qua kiểm định Hausman. Phân tích kết quả hồi quy và kiểm định các giả thuyết của mô hình. Đánh giá mức độ tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới tăng trưởng kinh tế. Chương 5 là kết luận và khuyển nghị; trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, hạn chể và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
4 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT Chương này nhằm mục đích giới thiệu khung lý thuyết cho việc phân tích tác động của đầu tư' trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh thành vùng DHMT giai đoạn 2000-2012, cụ thể như sau: Đưa ra các quan điểm, đặc điểm và các tác động của vốn FDI. Đưa ra các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, cách đo tăng trưởng kinh tế thông qua tổng sản phẩm thu nhập quốc nội (GDP). Đề cập đến các lý thuyết liên quan đến tăng trưởng kinh tế, phân tích các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tể. Sau cùng là các mô hình, cơ sở lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế.
Phân tích, tổng hợp một sổ nghiên cứu trong và ngoài nước và các phân tích theo vùng đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment: FDI) 2.1 Quan niệm về đầu tư trực tiếp nưởc ngoài Theo Qũy Tiền tệ Quốc tế IMF (1997), đầu tư trực tiếp nước ngoài là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo ủy ban Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển UNCTAD, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài).
Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này. Theo Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (2000), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt 5 Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này. Theo Luật đầu tư (2005), đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
Tóm lại, có thể khái quát chung khái niệm “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hĩnh thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư sang các nước khác thông qua việc quản lý trực tiếp hoặc quản lý quá trĩnh sử dụng nhằm mục đích thu được lợi nhuận. Nhà đầu tư nước ngoài có thể là các tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân nước ngoài”. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Nguyễn Trọng Hải (2010), đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, đây là loại hình chu chuyển vốn quốc tế, chủ sở hữu vốn tiến hành hoạt động đầu tư ở nước ngoài, có nghĩa là doanh nghiệp tiếp nhận vốn đẩu tư trực tiếp nước ngoài không thuộc quốc gia của chủ đầu tư. Thử hai, về quy mô vốn, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu hoặc tối đa nhất định tùy thuộc vào luật đầu tư của từng quốc gia.
Thứ ba, đây là loại hình đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư nước ngoài có quyền điều hành doanh nghiệp tiếp nhận vốn. Quyền này phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư vào vốn pháp định. Trong trường hợp góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ tư, thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và lãi hoặc lỗ được phân chia giữa các chủ đầu tư theo tỷ lệ góp vốn của các bên.
Thứ năm, so với các loại hình đầu tư quốc tể khác, FDI ít chịu sự chi phối của Chính phủ hơn, đặc biệt ít phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước chủ nhà với nước đầu tư. Thứ sáu, FDI là loại đầu tư dài hạn và trực tiếp. Do đó, FDI là một khoản vốn 6 dài hạn tương đối ổn định và không phải là vốn vay nên nước chủ nhà có được một nguồn vốn dài hạn bổ sung cho đầu tư trong nước và không phải lo trả nợ. Hơn nữa, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn có vốn bổ sung trong quá trình đầu tư của các bên nước ngoài.
Thứ bảy, các chủ đầu tư phải tuân thủ các quy định pháp luật của nước sở tại đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thứ tám, do mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận nên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của FDI phần lớn là những lĩnh vực có thể mang lại lợi nhuận cao. Thứ chỉn, về hình thức, các nhà đầu tư có thể thực hiện FDI theo các phương thức như bỏ vốn thành lập doanh nghiệp mới ở nước ngoài hoặc muadại một phần hay toàn bộ các doanh nghiệp có sẵn hoặc mua cổ phiếu tiến tới thôn tính, sáp nhập. Thứ mười, xu hướng đa cực, đa biên và đa hình thức trong FDI ngày càng rõ nét, thường nhiều bên cùng tham gia với tỷ lệ vốn góp khác nhau và với các hình thức tư bản khác nhau như tư bản nhà nước và tư nhân cùng tham gia.
Thứ mười một, các nhà đầu tư nước ngoài thường rất tinh thông về thị trường thế giới và tiến bộ kỹ thuật, hơn nữa hiệu quả FDI gắn liền với lợi ích của chủ đầu tư nên họ có thể lựa chọn công nghệ, kỹ thuật tiên tiến thích hợp, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và khả năng quản lý cho nước tiếp nhận đầu tư, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vì lợi nhuận các nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển giao một số công nghệ lạc hậu, đẩy các doanh nghiệp của nước sở tại tới bờ vực phá sản, hoặc làm mất cân đối cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Những tác động của FDI đển nước nhận đầu tư Có nhiều nghiên cứu phân tích tác động của FDI đối với nền kinh tế của nước nhận đầu tư như Nguyễn Mại (2004), Hà Thanh Việt (2006), Nguyễn Trọng Hải (2010),. đều rút ra nhận định chung rằng khu vực có vốn FDI đã có những tác động tích cực và tiêu cực vào nền kinh tế của nước nhận đầu tư, có thể tập hợp lại những tác động đó như sau: 7 - Tác động tích cực: Các nhà đầu tư nước ngoài mang đến nhiều vốn, công nghệ, thị trường quốc tế, kinh nghiệm quản lý, góp phần tạo việc làm, cải thiện thu nhập, hội nhập sâu vào hoạt động quốc tế, nâng cao trình độ phát triển cần thiết cho nước đầu tư, như sau: Thứ nhất, thúc đẩy chuyển giao và phát triển công nghệ nhất là ở những nước đang phát triển.
Các công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp những máy mỏc, công nghệ tiên tiến, thông qua đó các công ty trong nước có thể bắt chước các công nghệ được sử dụng bằng các con đường như: mua bằng phát minh sáng chế và cải tiến công nghệ cho phù hợp. Thứ hai, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực cho địa phương. Thông qua vốn FDI sẽ tạo ra các doanh nghiệp mới hoặc làm tăng quy mô các doanh nghiệp hiện có từ đó giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều lao động, đồng thời người lao động có thể tiếp thu được nhiều kỹ năng chuyên môn và quản lý từ các doanh nghiệp FDI. Lực lượng lao động này quay lại làm việc cho các doanh nghiệp địa phương trong nước.
Thứ ba, góp phần cải cách thủ tục hành chỉnh và tăng tỉnh minh bạch cho môi trường đầu tư. Để thu hút nguồn vổn từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nước nhận đầu tư luôn phải tự hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tê, tạo ra sự minh bạch và bình đẳng cho các nhà đầu tư.