Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu lý thuyết tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội - Kojima Kiyoshi (1973), “A Macroeconomic Approach to Foreign Direct Investment” Hitotsubas Journal of Econometrics, 14 (1), pp. Học thuyết đã phân chia FDI thành hai hình thức: FDI định hướng thương mại (Nhật Bản) và FDI chống lại thương mại (Mỹ).
Ông cho rằng FDI sẽ thúc đẩy việc nâng cấp cơ cấu công nghiệp của cả hai bên và do đó thúc đẩy thương mại giữa hai nước. Đồng thời đã chỉ ra mối liên kết giữa FDI và sự TTKT, sự vận động của FDI có thể dẫn đến sự mở rộng sản xuất đến điểm cân bằng mới, tuy nhiên FDI, thông qua việc đào tạo và CGCN, có ảnh hưởng từ từ đối với việc tăng cường NLCT của ngành công nghiệp đặc thù tại quốc gia sở tại và cuối cùng là nâng cao khả năng sản xuất của ngành CN đó. Ngoài ra, hình thức FDI theo xu hướng thương mại (Nhật Bản) và ngược lại mục đích thương mại (Mỹ) có thể cùng xuất hiện trong một quốc gia, hoặc trong cùng một ngành.W (1998), “How Does Foreign Direct Investment Affect Economic Growth?”, Journal of International Economics. Nghiên cứu phân tích mô hình mối quan hệ giữa sự TTKT với FDI và các nhân tố cơ bản ở các nước đang phát triển.
Kết quả phân tích tác giả đề xuất mô hình thực nghiệm: g = c0 + c1FDI + c2FDI*H + c3H + c4Y0 +c5A. Trong đó: g là TTKT, H là nguồn vốn nhân lực, Y0 là GDP trên đầu người, A là một tập hợp các biến khác ảnh hưởng đến TTKT (gồm các biến kiểm soát và chính sách thường là các yếu tố quyết định tăng trưởng trong các nghiên cứu xuyên quốc gia, như chi tiêu của chính phủ, chi phí không chính thức, thước đo bất ổn chính trị, lạm phát và thước đo chất lượng của các tổ chức). Biến FDI tính bằng tỷ lệ so với GDP. - Đào Thị Bích Thủy (2012), “Tác động của FDI đến TTKT trong mô hình nền kinh tế đang phát triển”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và KD số 28,tr193‐199.
Nghiên cứu phân tích mô hình sự vận hành của nền kinh tế bao gồm hai khu vực SX là trong nước và nước ngoài với hàm SX Cobb-Douglas, đã cho thấy tầm quan trọng của vốn nhân lực như một nhân tố quyết định sự thành công của FDI đến TTKT. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cách thức phân bổ đầu tư sẽ đem lại những kết quả khác nhau. Việc lựa chọn cách thức phân bổ tùy thuộc vào mục tiêu. Nếu mục tiêu của nền kinh tế là tăng trưởng cao thì nên tập trung nguồn lực đầu tư cho vốn nhân lực.
Còn nếu mục tiêu là tạo nhiều việc làm cho LĐ phổ thông thì nên tập trung nguồn lực đầu tư cho 8 vốn vật chất. Tuy nhiên, khuôn khổ mô hình nghiên cứu còn hạn chế chưa tính đến tiến trình công nghệ và kênh CGCN thông qua FDI. Các nghiên cứu tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển trên thế giới và khu vưc - Masia Tshepo (2014), “The impact of foreign direct investment on Economic Growth and Employment in South Africa: A time series analysis”. Bài viết ước lượng ảnh hưởng của FDI đến PTKT và việc làm ở Nam Phi trong giai đoạn từ năm 1990 – 2013, sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian, kiểm định đồng tích hợp Johasen để kiểm định quan hệ ổn định lâu dài giữa các biến, kiểm định quan hệ nhân quả để thiết lập quan hệ nhân quả giữa các biến, đã chỉ ra việc làm và GDP đứng yên tại bước đầu tiên, trong khi FDI đứng yên ở bước tiếp theo.
Kiểm định đồng tích hợp khẳng định tồn tại quan hệ nhân quả của FDI đến GDP và của FDI đến việc làm giai đoạn 1990-2013 Nam Phi. Sauwaluck Koojaroenprasit (2012), “The Impact of Foreign Direct Investment on Economic Growth: A Case Study of South Korea”, kiểm tra tác động của FDI đến TTKT ở Hàn Quốc giai đoạn 1980-2009, sử dụng phương trình kinh tế lượng: g = a+b1I+b2FDI+b3L+b4X+b5H+c1FDI*I+c2FDI*H+c3FDI*X+e. Trong đó: g = tốc độ tăng trưởng GDP thực tế; I = vốn đầu tư trong nước; L = việc làm; X = xuất khẩu; H = nguồn nhân lực. Nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ của FDI đối với TTKT của Hàn Quốc, đối với nguồn nhân lực, việc làm và xuất khẩu, trong khi đầu tư trong nước tác động không đáng kể đến TTKT của Hàn Quốc.
Mối tương quan của FDI - nguồn nhân lực và FDI - xuất khẩu chỉ ra rằng sự chuyển dịch công nghệ và kinh nghiệm ảnh hưởng xấu đến TTKT của Hàn Quốc. - Basem Mohammed Louzi & Abeer Abadi (2011), “The Impact of Foreign Direct Investment on Economic Growth In Jordan”, xem xét quan hệ giữa FDI với TTKT của Jordan, dựa trên dữ liệu thu thập từ năm 1990 đến 2009. Sử dụng hàm SX: GDP = B0FDIB1DINB2TPB3U, trong đó: GDP ở dạng log, FDI theo %, DIN đầu tư trong nước (ở dạng log), TP là tự do hóa TM (ở dạng log), U là sai số ngẫu nhiên, cho thấy FDI đồng thời ảnh hưởng đến TTKT, đầu tư trong nước và tự do hóa TM. - Rui Moura và Rosa Forte (2010), “The Effects of Foreign Diect Investment on the Host Country Economic Growth - Theory and Empirical Evidence”, Research Work in Progress, N.390, tác giả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của FDI đến KTXH của nước tiếp nhận đầu tư của 08 nước phát triển và 41 nước đang phát triển.
Kết quả cho thấy, FDI vừa có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến phát triển KTXH của 9 nước tiếp nhận đầu tư và ảnh hưởng của FDI đến TTKT phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.của nước nhận đầu tư. Do vậy nhà nước có một vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng FDI. Nhà nước cần có những chính sách đối với FDI phù hợp tạo ra những điều kiện cần thiết để phát huy tối đa hiệu quả của FDI. Mặt khác cần phải có sự chọn lựa các DAĐT có hiệu quả tốt nhất.
- OECD (2008), “The social impact of foreign direct investment”. Bài viết đã đánh giá vai trò của FDI đối với kinh tế thế giới ngày càng tăng lên nhanh chóng. Tổng nguồn vốn của FDI từ 8% tổng GDP nền kinh tế thế giới năm 1990 đã tăng lên 26% trong năm 2006. Từ giữa những năm 1990, FDI trở thành nguồn chính, chủ yếu đầu tư vào các nước đang phát triển.
FDI tạo ra việc làm, mức thu nhập cao cho người LĐ trong nước, chuyển giao công nghệ hiện đại cho DN nước sở tại, đẩy mạnh cạnh tranh của các DN trong nước để phát triển. Tại các nước đang phát triển, DN FDI trả lương cho người LĐ cao hơn so với các DN trong nước và tăng lương bình quân cho người LĐ trong ngắn hạn. Điều này đã có hiệu ứng lan tỏa đến các DN trong nước. Những lợi ích tiềm ẩn của FDI còn phụ thuộc vào lợi ích của DN và công nhân trong nước được hưởng từ dòng vốn này.
Để FDI thúc đẩy PTKT tốt nhất, chính phủ cần phải hạn chế các thủ tục pháp lý rườm rà cản trở FDI, chú trọng đến chất lượng các dự án FDI bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút FDI, đẩy mạnh công tác giám sát, kiểm tra. - OECD-ILO Conference On Corporate Social Responsibility, Report (2008), “The Impact of Foreign Direct Investment On Wages And Working Conditions”, OECD Conference Centre, Paris, France, tổng kết tác động của FDI đến thị trường LĐ và chỉ ra các tập đoàn đa quốc gia (MNEs) có xu hướng tăng tiền lương cho LĐ trong các DNFDI, kéo theo sự tăng tiền lương của LĐ nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng của các DNFDI. Được thể hiện rõ nét ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển, là do khoảng cách về công nghệ giữa DNFDI và DN trong nước lớn. - Joseph Magnus Frimpong and Eric Fosu Oteng-Abayie (2006), “Bivariate causality analysis between FDI inflows and economic growth in Ghana”.
Bài viết chỉ ra quan hệ nhân quả giữa FDI và TTKT ở Ghana, với mô hình kinh tế lượng: lnGDPGRt = γ0 + + + ε1t lnFDIt = γ0 + + + ε2t Trong đó: lnGDPGR và lnFDI tương ứng là logarit tự nhiên của GDP và FDI. k là thứ tự lag tối ưu, d là tối đa hội nhập của các biến trong các hệ thống và ε1 và ε2 là sai số. Dữ liệu thu thập được phân thành 3 trường hợp: (1) Giai đoạn từ năm 1970-2002; (2) Giai đoạn từ năm 1970-1983 sự bất ổn chính trị và kinh tế suy thoái; (3) Giai đoạn từ 10 năm 1984-2002 sự ổn định chính trị và kinh tế. Kết quả cho thấy FDI không có quan hệ với TTKT cho hai giai đoạn 1970 - 2002 và giai đoạn 1970 - 1983, giai đoạn 1984 - 2002, FDI tác động đến tăng trưởng GDP của Ghana, nhưng tăng trưởng GDP không có tác động thu hút FDI.
Do đó để thu hút FDI là chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, tổ chức, quản trị, khuôn khổ pháp lý, CNTT, hệ thống thuế. - Sarumi Adewumi (2006), The Impact of FDI on Growth in Developing Countries An African Experience, Luận văn thạc sĩ Trường KD Quốc tế, ĐH Jonkoping, phân tích tác động của FDI đến TTKT ở các nước châu Phi bằng phương pháp phân tích đồ họa và hồi quy, sử dụng mô hình: Ŷt = α + α1Ŷt-1 + α2Ŷt-2 + β1fdit-1 + β2fdit-2 + εt. Trong đó: fdi = FDI/GDP. Dữ liệu của 11 quốc gia Châu Phi, chuỗi thời gian từ năm 1970-2003.
Kết quả chỉ ra đóng góp của FDI đến TTKT là tích cực ở hầu hết các quốc gia, tuy nhiên tác động của FDI đến TTKT không đáng kể. - Har Wai Mun, Teo Kai Lin và Yee Kar Man (2006), “FDI and Economic Growth Relationship: An Empirical Study on Malaysia”, Nghiên cứu Kinh doanh Quốc tế, Vol. Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của FDI đến TTKT ở Malaysia giai đoạn 1970-2005, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và mô hình ước lượng OLS, đã chỉ ra khi tăng FDI 1% sẽ dẫn đến sự gia tăng tốc độ tăng trưởng GDP là 0,046072. Hơn nữa, khi FDI tăng 1%, cũng tăng trưởng GNI là 0,044877%.
Lovely và Hua Wang (2004), “Foreign Direct Investment and Pollution Havens: Evaluating the Evidence from China”.