Chương 1: Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất tín dụng của ngân hàng trung ương. - Chương 2: Thực trạng chính sách lãi suất tín dụng của ngân hàng nhà nước Việt Nam. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian tới. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT 1. Khái niệm lãi suất Lãi suất bắt đầu xuất hiện từ khi quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa bắt đầu hình thành. Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế. Lãi suất tín dụng là một công cụ kinh tế rất quan trọng và nhạy cảm đối với mọi nền kinh tế, nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đó là vai trò ổn định và góp phần nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ tạo ra sự kích thích cần thiết để phát triển nền kinh tế mỗi quốc gia và toàn thế giới.
Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp, đa dạng và phức tạp. Tính tổng hợp và phức tạp của lãi suất xuất phát từ khái niệm “lãi suất không khác hơn là một loại giá-giá thuê vốn”. - Nó tổng hợp bởi sự chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế quan trọng tác động đến sự phát triển của nền kinh tế. - Tính đa dạng thể hiện ở đa dạng của các loại tín dụng khác nhau trong nền kinh tế thị trường như: lãi suất cầm cố thế chấp, lãi suất trái phiếu công ty, lãi suất trái phiếu kho bạc nhà nước, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tín dụng tại ngân hàng.
- Nó phức tạp bởi nó là một phạm trù giá cả, sự biến động của nó chịu ảnh hưởng của các quy luật cung-cầu trên thị trường, quy luật đó lại có mối quan hệ tác động qua lại với các quy luật khác. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về lãi suất. Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức 4 tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi.
Tỷ lệ phần trăm của số tiền, lãi trên số tiền vốn được gọi là lãi suất. Theo Sammuelson: “Lãi suất là giá của người đi vay phải trả cho người cho vay để sử dụng một khoản tiền trong một khoản thời gian xác định”. Các loại lãi suất tín dụng của ngân hàng trung ƣơng 1. Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản (LSCB) là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác hình thành trong nền kinh tế thị trường.
Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng trong cơ chế thị trường. Lãi suất cơ bản do NHTW xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Qua lãi suất cơ bản, NHTW tác động vào thị trường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tương quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cơ sở hình thành lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hòa một cách tự nhiên lợi ích của người gửi tiền, của người vay tiền và của tổ chức tín dụng. Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ.
Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng (người gửi tiền và người vay vốn) người ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các tổ chức tín dụng không được hạ lãi suất một cách tùy tiện và vì yêu cầu phát triển sản xuất, các tổ chức tín dụng không được tăng lãi suất cho vay quá mức. Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của các tổ chức tín dụng, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quy định lãi suất cơ bản 5 theo chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu. Tuy nhiên vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp sẽ gây thiệt hại chung cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Khi xác định LSCB phải tính đến tổng thể quan hệ cung - cầu vốn thông qua hàng loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông thường. Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát dự kiến, lãi suất thực dương cho người gửi tiền, bù đắp chi phí và có lãi cho TCTD, yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ từng thời kì, rủi ro trong hoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắt buộc, lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ nói chung, mối tương quan giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, mối tương quan giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái… Sử dụng lãi suất cơ bản phải linh hoạt tùy vào từng thời điểm cũng như mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Với mục tiêu kiểm chế lạm phát thì NHTW cần điều chỉnh lãi suất cơ bản theo chiều hướng tăng lên và ngược lại. Lãi suất tái chiết khấu Lãi suất tái chiết khấu (hay lãi suất chiết khấu) là lãi suất áp dụng khi NHTW tái chiết khấu thương phiếu và các GTCG ngắn hạn (tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi) cho các TCTD.
Đây là loại lãi suất mà NHTW ấn định khi các tổ chức thiếu hụt vốn tạm thời mang GTCG ngắn hạn (tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi) để chiết khấu tại cửa sổ chiết khấu của NHTW. Khi nền kinh tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, NHTW chuyển sang điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là lãi suất tái chiết khấu của NHTW. Lãi suất tái chiết khấu tác động và có ý nghĩa 6 hướng dẫn lãi suất thị trường một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu tác động đến cung tiền tệ bằng cách ảnh hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự giảm xuống cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ. Còn một sự tăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ. Lãi suất chiết khấu có hai tác dụng: tác dụng về lượng đối với khối lượng tiền tệ trong lưu thông và tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh tế: - Tác dụng về lượng: Việc phân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy các NHTM sau khi tạo ra tiền ghi sổ còn phải tiền trung ương để đảm bảo.
Nhu cầu này khiến họ phải đi vay ở NHTW bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ có giá của mình. Việc tái cấp vốn của NHTW cho các NHTM có tác dụng về lượng đối với khối lượng tiền tệ vì nó dẫn đến việc phát hành tiền của NHTW cho các NHTM để họ có thể chi trả cho việc rút vốn khỏi các NHTM. - Tác dụng về giá: NHTW tái chiết khấu các chứng từ do NHTM xuất trình với điều kiện NHTM phải trả một tỷ suất nhất định do NHTW đơn phương quy định. Lãi suất này gọi là tỷ suất chiết khấu hay lãi suất chiết khấu.
Các loại lãi suất cho vay tư nhân tức là lãi suất tín dụng cấp cho nền kinh tế và lãi suất cho vay nhà nước đều gắn chặt với lãi suất tái chiết khấu. Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng tiền tệ, lãi suất chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những cơn sụp đổ tài chính vì NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng. NHTW cung cấp hệ thống dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các ngân hàng bị đe dọa phá sản, do đó ngăn chặn những cơn sụp đổ tài chính. 7 Như vậy, lãi suất chiết khấu chính là một loại lãi suất chủ đạo trong điều hành chính sách lãi suất của NHTW sao cho phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất tái cấp vốn Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các NHTM. Khi tái cấp vốn cho NHTM, NHTW đã tăng lượng tiền cung ứng, đồng thời tạo cơ sở cho NHTM tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán cho họ. Đây là loại lãi suất mà NHTW ấn định khi các TCTD thiếu hụt vốn trầm trọng mà không thể tiếp cận các kênh khác như: liên ngân hàng, cửa sổ chiết khấu,…thông qua các hình thức như cho vay theo hồ sơ tín dụng, tái chiết khấu thương phiếu và các GTCG ngắn hạn khác; cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các GTCG ngắn hạn khác. NHTW điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn phù hợp với mục tiêu thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hay tăng lượng tiền trong lưu thông.
NHTW cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặt lượng đối với dự trữ của hệ thống NHTM. Cơ chế tác động của lãi suất tái cấp vốn cũng giống như của lãi suất tái chiết khấu. Khi NHTW đặt ra mục tiêu chống lạm phát, ổn định tỷ giá thì lãi suất tái cấp vốn sẽ tăng và ngược lại khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế thì lãi suất tái cấp vốn sẽ giảm. Lãi suất thị trường mở (OMO) Nghiệp vụ thị trường mở là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng.