phần mở đầu, mục lục, phụ lục, bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận thì kết cấu của đề tài gồm có ba phần chính, nhƣ sau: 3 Chƣơng 1. Lãi suất và chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ƣơng Chƣơng 2. Thực trạng chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nƣớc giai đoạn 2011 - 2015. Giải pháp nâng cao hiệu lực của chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 4 CHƢƠNG 1 LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1.
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT 1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hƣởng tới lãi suất 1. Khái niệm Lãi suất phản ảnh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (ngƣời vay vốn) với chủ thể sở hữu vốn (ngƣời cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm theo lãi ở thị trƣờng vốn ở một thời điểm nhất định. Nói cách khác, lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó hay lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền tăng thêm mà ngƣời đi vay phải trả cho ngƣời cho vay so với phần giá trị vay ban đầu.
Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất Trong các nền kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc chỉ đóng vai trò là ngƣời điều tiết vĩ mô, thị trƣờng tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trƣờng. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hƣởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũng nhƣ nhiều các nhân tố khác. Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ: Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị trƣờng. Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính phủ và NHTW, song đa số các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất.
Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị trƣờng vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lƣợc trong từng thời kỳ chẳng hạn nhƣ thay 5 đổi cơ cấu vốn đầu tƣ, tập trung vốn cho các dự án trọng điểm. Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trƣờng vốn phải đƣợc đảm bảo vững chắc. Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng: Khi lạm phát đƣợc dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hƣớng tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tƣơng ứng.
Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản khác nhƣ vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tƣ vốn ra nƣớc ngoài nếu có thể. Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trƣờng. Từ mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trƣởng của nền kinh tế. Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân: Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tƣ phải cao hơn lãi suất các khoản vay tài trợ cho dự án.
Có nhƣ vậy các nhà đầu tƣ mới có lợi nhuận từ các dự án đầu tƣ và phấn khởi mở rộng đầu tƣ. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính sách lãi suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ƣớc lƣợng tỷ suất lợi tức trung bình của nền kinh tế. Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách Nhà nước: Bội chi ngân sách ở trung ƣơng và địa phƣơng trực tiếp làm cho cầu tiền tăng và làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát.
Thông thƣờng, Chính phủ thƣờng tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu. Lƣợng cung trái phiếu trên thị trƣờng tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hƣớng giảm và lãi suất thị trƣờng có xu hƣớng tăng. Mặt 6 khác, do tài sản có của NHTM tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vƣợt mức giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng. Thu nhập thực tế: Loại trừ ảnh hƣởng của yếu tố biến động giá ra khỏi thu nhập danh nghĩa, ta có thu nhập thực tế.
Khi nền kinh tế đang tăng trƣởng, thu nhập thực tế tăng lên, các chủ thể kinh tế muốn giữ thêm tiền làm nơi dự trữ giá trị đồng thời muốn chi tiền cho tiêu dùng nhiều hơn làm cầu tiền tăng ở mọi mức lãi suất và làm lãi suất tăng. Sự suy thoái của nền kinh tế lại có tác động ngƣợc lại. Thu nhập, tài sản của mọi chủ thể kinh tế khi đó giảm xuống, làm cầu tiền giảm ở mọi mức lãi suất và làm lãi suất giảm. Rủi ro: Khi mức độ rủi ro của các công cụ nợ tăng lên (do giá cả công cụ nợ bất ổn định, do rủi ro vỡ nợ…) so với công cụ đầu tƣ khác sẽ làm nhu cầu mua công cụ nợ giảm đi, làm cung quỹ cho vay giảm và lãi suất tăng.
Trƣờng hợp ngƣợc lại, làm cung quỹ cho vay tăng và làm lãi suất giảm. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái: Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nƣớc này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nƣớc khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trƣờng ngoại hối quyết định và chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố nhƣ cán cân thanh toán quốc tế, cung cầu ngoại tệ, lạm phát. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không một quốc gia nào, nếu muốn tồn tại và phát triển, lại không tham gia thực hiện phân công lao động và thƣơng mại quốc tế.
Thông qua quá trình trao đổi buôn bán giữa các nƣớc, tỷ giá (tỷ giá đƣợc niêm yết theo phƣơng pháp biểu hiện trực tiếp) của một nƣớc tăng, xuất khẩu tăng lên nguồn thu ngoại tệ tăng lên. Điều đó làm tăng cung ngoại tệ, tƣơng đƣơng với việc tăng cầu nội tệ kết quả làm lãi suất tăng lên. Với lập luận tƣơng tự, chúng ta sẽ thu đƣợc một mức lãi suất nội tệ thấp hơn nếu tỷ giá giảm, đồng nội tệ có giá hơn. Tóm lại, khi mức giá 7 của đồng tiền của một nƣớc so với nƣớc khác giảm xuống thì một ƣớc đoán hợp lý và lãi suất trong nƣớc sẽ tăng lên và ngƣợc lại.
Những thay đổi trong đời sống xã hội: Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hƣởng của các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác nhƣ tình hình về kinh tế, chính trị cũng nhƣ những biến động tài chính quốc tế nhƣ các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tƣ ra vào đối với các nƣớc. Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hành chính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trƣớc khi đƣa ra bất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất. Vai trò của lãi suất Lãi suất là một trong những biến số đƣợc quan tâm chặt chẽ nhất trong nền kinh tế, bởi lãi suất không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp tới đời sống của mỗi chúng ta mà còn là một chỉ số đo lƣờng sức khỏe của nền kinh tế. Có thể khái quát vai trò của lãi suất qua 2 nội dung là vai trò vĩ mô và vai trò vi mô.
Vai trò vĩ mô * Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô: Đối với Ngân hàng Trung ƣơng thì lãi suất là công cụ của chính sách tiền tệ để điều tiết kinh tế vĩ mô. Sự biến động của lãi suất trong quá trình điều chỉnh của Ngân hàng Trung ƣơng tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế nhƣ đầu tƣ, tiêu dùng, tiết kiệm, tỷ giá…qua đó ảnh hƣởng trực tiếp đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nƣớc. Với tƣ cách là cái giá phải trả cho những số tiền vay để đầu tƣ hay mua các sản vật tiêu dùng, lãi suất tạo nên khoản chi phí của ngƣời đi vay. Việc so sánh giữa lãi suất phải trả với hiệu quả biên của đồng vốn là căn cứ quan trọng để ngƣời kinh doanh đƣa ra quyết định về đầu tƣ.
Một sự gia tăng trong 8 lãi suất sẽ làm giảm khả năng có đƣợc những thu nhập khá lớn để bù đắp đƣợc số lãi phải trả, và do đó số đầu tƣ chắc chắn sẽ giảm. Nhƣng lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số ngƣời tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng tự định sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao gồm các thành phần nhƣ cầu đầu tƣ của doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động của lãi suất có tác động đến đầu tƣ, đến tiêu dùng nên nó tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trƣờng hợp: + Lãi suất thấp khuyến khích đầu tƣ, khuyến khích tiêu dùng Tăng tổng cầu Sản lƣợng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hƣớng tăng giá so với ngoại tệ.
+ Lãi suất cao Hạn chế đầu tƣ, hạn chế tiêu dùng giảm tổng cầu sản lƣợng giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hƣớng tăng giá so với ngoại tệ. - Tác động đối với đầu tư: Lãi suất là giá vốn của đầu tƣ, quyết định chi phí đầu tƣ, nếu chi phí đắt, doanh nghiệp giảm đầu tƣ, nếu chi phí rẻ, doanh nghiệp dễ dàng vay vốn mở rộng sản xuất và đầu tƣ vào thiết bị, trang bị công nghệ sản xuất hiện đại. Thêm vào đó, nguồn thu lại từ những khoản đầu tƣ nhƣ vậy thì có giá trị tại thời điểm khi mà lãi suất thấp hơn khi là lãi suất cao. Điều này khiến cho các doanh nghiệp lãi nhiều hơn khi đầu tƣ với mức lãi suất thấp, do đó, năng suất lao động tăng mạnh giúp kinh tế phát triển nhanh hơn và tổng thu nhập quốc dân tăng lên.