Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lạm phát và chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát của Ngân hàng Trung ƣơng. Chương 2: Thực trạng chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát ở Việt Nam từ năm 2007 đến nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ đảm bảo kiểm soát lạm phát của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. 3 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1.
Quan điểm về lạm phát 1. Khái niệm Theo các định nghĩa chính thống trong sách giáo khoa kinh tế thì lạm phát (inflation) đƣợc coi là hiện tƣợng lƣợng tiền lƣu thông tăng vƣợt quá sự tăng trƣởng hàng hóa sản xuất ra. Hiện tƣợng này dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hoá trong nền kinh tế không ngừng tăng lên. Đây có thể coi là khái niệm nguyên bản về lạm phát.
Khái niệm về lạm phát đƣợc trình bày ở trên đƣợc mô tả theo quan điểm của trƣờng phái tiền tệ. Đại diện cho trƣờng phái này là hai nhà kinh tế học Milton Friedman và John Maynard Keynes. Trƣờng phái tiền tệ cho rằng lạm phát chỉ xuất hiện do nguyên nhân tiền tệ còn các nguyên nhân khác nhƣ “cầu kéo” hoặc “chi phí đẩy” đối với hàng hoá không thể xảy ra lâu dài và thƣờng xuyên, mà chỉ có tính chất tạm thời. Tuy nhiên, quan điểm về lạm phát tiền tệ gặp phải một trở ngại là việc xác định khối lƣợng tiền tệ cần thiết cho lƣu thông là không khả thi, vì thực tế tổng lƣợng hàng hoá, dịch vụ luân chuyển trong nền kinh tế luôn biến động.
Ngoài ra, vòng quay tiền cũng không ổn định và mục đích sử dụng tiền cũng luôn thay đổi. Do vậy, chúng ta chỉ có thể nhận diện ra lạm phát qua dấu hiệu hàng hoá, dịch vụ tăng giá. Vì những nguyên nhân này mà đa số các nhà kinh tế học đã đồng nhất tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ tăng giá. Điển hình là nhà kinh tế học Paul Samuelson cho rằng lạm phát có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau: (1) Nguyên nhân cầu kéo (do các cơn sốc về nhu cầu hàng hoá tiêu dùng); (2) Nguyên nhân phí phí đẩy (do các cơn sốc về phía cung); hoặc (3) Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý (kỳ vọng) về lạm phát tăng mạnh trong tƣơng lai; (4) Cung tiền tăng nhanh hơn lƣợng hàng hóa sản xuất (giống trƣờng phái tiền tệ).
Sự khác biệt cơ bản trong quan điểm về các nguyên nhân gây ra lạm phát của 4 z hai quan điểm về lạm phát ở trên là quan điểm tổng hợp của Paul Samuelson cho rằng giá cả hàng hoá gia tăng dù là tạm thời cũng có thể coi là có lạm phát. Trong khi đó, trƣờng phái tiền tệ mà đại diện là Milton Friedman và John Maynard Keynes thì cho rằng chỉ khi mức giá chung tăng lên liên tục trong một quá trình kéo dài có tính quy luật thì mới gọi là lạm phát.Marx đã cho rằng "lạm phát là sự tràn đầy các kênh, các luồng lƣu thông những tờ giấy bạc thừa làm cho giá cả (mức giá) tăng vọt và việc phân phối lại sản phẩm giữa các giai cấp trong dân cƣ có lợi cho giai cấp tƣ sản. Ở đây, Marx đã đứng trên góc độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, dẫn tới ngƣời ta có thể hiểu lạm phát là do nhà nƣớc, do giai cấp tƣ sản để bóc lột một lần nữa giai cấp vô sản. Quan điểm này có thể xếp vào quan điểm lạm phát "lƣu thông tiền tệ" song định nghĩa này hoàn hảo hơn vì nó đề cập tới bản chất kinh tế - xã hội của lạm phát.
Tuy nhiên nó có nhƣợc điểm là cho rằng lạm phát chỉ là phạm trù riêng có của nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa mà lạm phát là phạm trù của kinh tế hàng hóa và chƣa nêu đƣợc ảnh hƣởng của lạm phát trên phạm vi quốc tế. Trên đây là các quan điểm của các trƣờng phái kinh tế học về lạm phát, nói chung các quan điểm đều chƣa hoàn chỉnh, nhƣng đã nêu đƣợc một số mặt của hai thuộc tính cơ bản của lạm phát.Trevithich : "Lạm phát có thể định nghĩa đúng nhất là xu hƣớng duy trì mức giá chung cao", hoặc "Lạm phát là một quá trình tăng giá liên tục, tức là mức giá chung tăng lên hoặc quá trình đồng tiền liên tục giảm giá"4. Tuy nhiên, việc nhìn nhận lạm phát bằng định nghĩa này hay định nghĩa khác khó có thể đi đến thống nhất theo từng quan điểm riêng biệt. Nhƣng lạm phát có thể nhận diện thông qua những đặc trƣng cơ bản.
Các đặc trưng cơ bản của lạm phát - Sự thừa tiền do cung tiền tệ tăng quá mức. - Sự tăng giá cả đồng bộ và liên tục trong thời gian dài theo sự mất giá của tiền giấy. - Sự phân phối lại qua giá cả. - Sự bất ổn về kinh tế - xã hội.
Biểu hiện của lạm phát - Là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hoá dịch vụ đồng thời phải tăng lên cùng 1 tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên. Một nền kinh tế vẫn có thể trải qua lạm phát khi giá của 1 số hàng hoá giảm, nếu nhƣ giá cả của các hàng hoá và dịch vụ khác tăng đủ mạnh. - Lạm phát cũng có thể là sự suy giảm sức mua trong nƣớc của đồng nội tệ.
Trong bối cảnh lạm phát, thì 1 đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua đƣợc ngày càng ít hàng hoá và dich vụ hơn. Hay nói cách khác, khi có lạm phát, chúng ta sẽ phải chi càng nhiều đồng nội tệ hơn để mua 1 giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định. Nếu thu nhập bằng tiền không theo kịp tốc độ trƣợt giá, thì thu nhập thực tế tức là sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm. Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống trong bối cảnh có lạm phát phụ thuộc vào thu nhập bằng tiền, tức là, các cá nhân có nhận thêm số đồng nội tệ đã giảm giá trị có đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay không.
Nhƣ vậy, mọi ngƣời không nhất thiết trở nên nghèo hơn trong bối cảnh có lạm phát. - Lạm phát không chỉ đơn thuần là sự tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá. Nếu nhƣ chỉ có 1 cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá thì giá cả chỉ bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban dầu ngay sau đó. Hiện tƣợng tăng giá tạm thời nhƣ vậy không đƣợc gọi là lạm phát.
Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thƣờng có ảnh hƣởng dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát. Nhƣ vây, về bản chất lạm phát là một hiện tƣợng tiền tệ khi những biến động tăng lên của giá cả diễn ra trong một thời gian dài. Phân loại lạm phát Ta có thể phân loại lạm phát theo mặt định tính hoặc định lƣợng. Về mặt định tính chúng ta sẽ chia lạm phát thành: lạm phát thuần túy, lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng… nhƣng trong thực tế chúng ta thƣờng hay sử dụng đó là cách phân loại lạm phát trên mặt định lƣợng là chủ yếu.
Chúng ta sẽ tiếp cận lạm phát trên mặt định lƣợng: Dựa trên độ lớn nhỏ của tỉ lệ % lạm phát tính trên năm, ngƣời 6 z ta chia lạm phát thành 3 loại1: - Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dƣới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tƣơng đối. Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thƣờng, đời sống của ngƣời lao động ổn định. Sự ổn định đó đƣợc biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lƣợng lớn.
Có thể nói, lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm đối với những ngƣời lao động chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tƣ cho sản xuất, kinh doanh. - Lạm phát phi mã: lạm phát xẩy ra khi giá cả tăng tƣơng đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng đƣợc chỉ số hoá.
Lúc này ngƣời dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thƣờng. Loại lạm phát này khi đã kéo dài và trở nên trầm trọng sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. - Siêu lạm phát: xẩy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vƣợt xa lạm phát phi mã, tốc độ lƣu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lƣơng thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trƣờng biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Trong lịch sử đã chứng kiến nhiều "cơn" lạm phát ở rất nhiều nƣớc lên tới trên ba chữ số nhƣ lạm phát ở Bolivia năm 1985 đến 11000%/năm, đó là tình trạng vào 1/1/1985 nếu một chiếc bánh ngọt có giá bằng 1 đồng Bolivia, thì đến 1/1/1986 (sau một năm) nó có giá là 111 đồng (hay tăng lên gấp 111 lần) và điển hình nhất là siêu lạm phát ở Đức (1922-1923) kể từ tháng 11/1922 đến tháng 11/1923 giá cả hàng hóa bình quân ở Đức tăng 1500 tỷ lần so với mức trƣớc năm 1914, điều đó tƣơng đƣơng với việc mua một con tem vào năm 1914 có giá là 29 xen Mỹ thì đến năm 1923 con tem ấy có giá là 435 USD.
Rồi siêu lạm phát ở Việt Nam vào những năm 80 của thế kỉ trƣớc lên tới hơn 700% và hậu quả nó gây ra cho các nền kinh tế là rất to lớn. 7 z Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nƣớc đang phát triển thƣờng diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn. Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại: Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dƣới 50% một năm; lạm phát nghiêm trọng thƣờng kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm.