Chương 1. Tổng quan về chính sách quản lý ngoại hối 8 Chương 2. Thực trạng chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2014-2022 Chương 3. Giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 1. Ngoại hối và quản lý ngoại hối 1. Khái niệm ngoại hối Cùng với tiến trình phát triển kinh tế, nhu cầu trao đổi, buôn bán hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia ngày một tăng lên kéo theo nhu cầu sử dụng và tích lũy các loại tiền tệ trong mỗi quốc gia tăng lên. Việc trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thời kỳ đầu thường sử dụng một số kim khí quý làm phương tiện thanh toán chung (vàng, bạc…).
Ngày nay, các quốc gia dùng nhiều hình thức thanh toán mới phong phú, đa dạng và hiện đại làm phương tiện thanh toán quốc tế như một số ngoại tệ mạnh, vàng tiêu chuẩn quốc tế, một số loại giấy tờ có giá như trái phiếu Chính phủ, quyền rút vốn đặc biệt, séc, thẻ thanh toán quốc tế; tại một số quốc gia thậm chí đã chấp thuận hoặc đang trong lộ trình chấp thuận các giao dịch thanh toán bằng tiền điện tử, tiền ảo… Các phương tiện thanh toán quốc tế này được gọi chung là ngoại hối. Định nghĩa một cách đơn giản, “ngoại hối” là một thuật ngữ chỉ phương tiện sử dụng trong thanh toán quốc tế, bao gồm: ngoại tệ, công cụ thanh toán bằng ngoại tệ, các loại chứng từ có giá bằng ngoại tệ, vàng, và trong một số trường hợp còn là chính đồng bản tệ của quốc gia. Trên giác độ hoạch định chính sách và quản lý, ngoại hối được hiểu là toàn bộ các loại tiền nước ngoài, các phương tiện chi trả có giá trị bằng tiền nước ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị có khả năng chuyển đổi ra ngoại tệ nào đó và toàn bộ các kim khí, đá quý. Pháp luật của các quốc gia thường không đưa ra một định nghĩa có tính tổng quát về ngoại hối; mặc dù vậy, các quốc gia đều thừa nhận các loại tài sản, quyền tài sản được cộng đồng quốc tế công nhận làm phương tiện thanh toán quốc tế là ngoại hối.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), ngoại hối (the foreign exchange) thường được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia. “Ngoại hối” bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Các phương tiện thanh toán quốc tế này được thể hiện bằng các tài sản tài chính (financial assets), bao gồm: (i) Ngoại tệ: là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước 10 khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR). Ngoại tệ có thể là kim loại, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền; (ii) Các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ như séc thương mại, chấp phiếu ngân hàng, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác; (iii) Vàng tiêu chuẩn quốc tế: vàng được sử dụng với vai trò là tiền - phương tiện thanh toán trong thanh toán quốc tế; (iv) Đồng tiền quốc gia (nội tệ) trong trường hợp được sử dụng trong thanh toán quốc tế hoặc được chuyển vào hay chuyển ra khỏi quốc gia (Giáo trình tài chính quốc tế hiện đại, 769).
Tại Việt Nam, khái niệm “ngoại hối” được quy định tương đồng với khái niệm chung của thế giới và đã được luật hóa tại Khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010 (Luật NHNN) và Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 (Pháp lệnh Ngoại hối 2005) bao gồm: a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực; b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác; c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; đ) Đồng tiền của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Hoạt động ngoại hối Hoạt động ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ tất cả các hoạt động liên quan đến giao dịch thanh toán quốc tế xảy ra giữa người cư trú và người không cư trú, cũng như các hoạt động sử dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đến ngoại hối. Hoạt động 11 ngoại hối bao gồm hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, giao dịch tài chính và sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ quốc gia. Tiêu chí phân biệt giữa các hình thức hoạt động ngoại hối là dựa trên bản chất kinh tế của những nguồn lực được chuyển giao giữa hai chủ thể trong giao dịch.
- Giao dịch vãng lai: là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú không vì mục đích chuyển vốn. Cụ thể giao dịch vãng lai bao gồm các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thu nhập thứ cấp giữa người cư trú và người không cư trú. - Giao dịch vốn: là giao dịch liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu các tài sản phi sản xuất phi tài chính và chuyển giao vốn một chiều giữa người cư trú và người không cư trú. Như vậy nội dung của những giao dịch này bao gồm các hoạt động mua bán tài sản phi tài chính phi sản xuất, chẳng hạn như tài nguyên thiên nhiên, bản quyền, thương hiệu…, cũng như những khoản chuyển giao vốn.
- Giao dịch tài chính: là giao dịch chuyển giao tài sản tài chính giữa người cư trú và người không cư trú. Giao dịch tài chính được phân loại thành đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, giao dịch tài chính phái sinh và đầu tư khác. - Sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ quốc gia: Thông thường, trên lãnh thổ một quốc gia, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo đều phải được thực hiện bằng nội tệ. Vì vậy việc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ quốc gia thường chỉ hạn chế trong các giao dịch với tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, uỷ thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác theo quy định của chính phủ.
Tại Việt Nam, pháp luật Việt Nam định nghĩa: “hoạt động ngoại hối” bao gồm hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối (Khoản 8 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối). Cụ thể: a) Giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú không vì mục đích chuyển vốn, bao gồm: 12 - Các khoản thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ; - Các khoản vay tín dụng thương mại và ngân hàng ngắn hạn; - Các khoản thu nhập từ đầu tư trực tiếp và gián tiếp; - Các khoản chuyển tiền khi được phép giảm vốn đầu tư trực tiếp; - Các khoản thanh toán tiền lãi và trả dần nợ gốc của khoản vay nước ngoài; - Các khoản chuyển tiền một chiều cho mục đích tiêu dùng; - Các giao dịch tương tự khác. b) Giao dịch vốn là giao dịch liên quan đến sự vận động của vốn (dòng chảy vào, dòng chảy ra khỏi quốc gia) giữa người cư trú và người không cư trú trong các lĩnh vực: - Các giao dịch vay và trả nợ nước ngoài: là việc người cư trú vay và trả nợ đối với người không cư trú. - Cho vay và thu hồi nợ nước ngoài: là việc người cư trú cho vay và thu hồi nợ nước ngoài đối với người không cư trú.
- Đầu tư trực tiếp: là việc người không cư trú chuyển vốn vào Việt Nam hoặc người cư trú chuyển vốn ra nước ngoài để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên cơ sở thành lập và tham gia quản lý các doanh nghiệp. - Đầu tư gián tiếp: là việc mua bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và góp vốn, mua cổ phần dưới mọi hình thức giữa người cư trú và người không cư trú mà không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp. c) Sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam: Các tổ chức, cá nhân sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam cần thực hiện đúng quy định khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam nhằm giữ vững, đảm bảo vị thế của đồng bản tệ, do đó cần thiết phải hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ trong mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, chỉ một số trường hợp cụ thể được phép mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ trên phạm vi lãnh thổ; đối với ngoại tệ tiền mặt đã có sẵn trong dân cư chỉ được sử dụng vào các mục đích cụ thể là cất giữ, mang trong người, gửi tiết kiệm và bán cho TCTD được phép. 13 d) Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối: Cung ứng dịch vụ ngoại hối, xét ở góc độ quản lý, là một trong những dịch vụ của các tổ chức tín dụng, bao gồm ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các tổ chức khác, được NHNN cấp phép (TCTD được phép).
Khác với các dịch vụ ngân hàng khác, ngoài việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đây còn là dịch vụ có điều kiện, phải tuân theo các quy định quản lý của Chính phủ, NHNN về quản lý ngoại hối. đ) Các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối có thể kể đến như giao dịch trên thị trường ngoại tệ; hoạt động lập và quản lý cán cân thanh toán quốc tế.