lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương : - Chương L: Những vấn để cơ bản về tự do hoá tài chính - Chương 2: Thực trạng quá trình tự do hoá tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua - Chương 3: Những giải pháp cải cách tài chính Việt Nam theo hướng tự do hoá CHUONG 1 NHUNG VAN DE CO BAN VE TY DO HOA TAI CHÍNH 1. KHAI NIEM TAI CHINH, KIEM CHE TAI CHINH VA TY DO HOA TÀI CHÍNH 1. Khái niệm tài chính Đề hiểu rõ về tự do hoá tà ¡ chính, trước hết cần làm sáng tỏ khái niệm tài chính và kiêm chế tài chính. Tài chính là tổng thê các quan hệ kinh tế, gắn với việc phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các nguồn lực tải chính thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định [8].
Phạm trù phân phối đã có từ lâu, tuy nhiên, không phải quan hệ phân phối nảo cũng là quan hệ tài chính. Qua phân tích lịch sử ra đời và phát triển của xã hội loài người đã cho thấy, vào đầu thời kỳ công xã nguyên thuỷ, mặc dầu quá trình phân phối đã diễn ra trong nội bộ các thị tộc và bộ lạc nhưng vẫn chưa có hoạt động của tài chính, bởi lẽ đây chỉ là một hình thức phân phối hiện vật. Còn phân phối tài chính không phải thể hiện dưới hình thức hiện vật mà là giá trị - phân phôi bằng tiền để hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Do đó, quan hệ kinh tế trong quan hệ tài chính là quan hệ tiền tệ - một quan hệ kinh tế chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá.
Thông qua các quan hệ tài chính giữa các tầng lớp dân cư, giữa các tầng lớp dân cư với nhà nước, quan hệ giữa nhà nước với toàn bộ các quan hệ kinh tế khác trong xã hội đẻ hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đó và làm cho nền kinh tế tổn tại và phát triển. Toàn bộ các quan hệ kinh tế thể hiện dưới hình thái tiền tệ gắn với các nguồn lực tài chính dé hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nên kinh tế hàng hoá đều là quan hệ tài chính, Trong đời sống kinh tế xã hội, tài chính có hai chức năng: Chức năng phân phối và chức năng giám đốc, trong đó nhiệm vụ cụ thể của chức năng thứ nhất là huy động vốn và phân phối vốn còn chức năng thứ hai là giám sát các hoạt động kinh tế nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, Các chức năng của tải chính có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ tác động qua lại lẫn nhau. Việc phân phối nguồn vốn cho các hoạt động kinh tế đúng mục đích sẽ làm cho việc sử dụng nguồn vốn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Việc giám sát các hoạt động tài chính thông qua chức năng giám đốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả các hoạt động của một nên kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu trong chính sách kinh tế của mỗi quốc gia. Và hệ thống tài chính phát triển sẽ có tác động tích cực đến việc tăng trưởng kinh tế. Do đó, nó giữ một vai trò quan trọng trong việc kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Vĩ vậy, các chính sách của Chính phủ cần phải hướng đến hệ thống tài chính phát triển.
Vậy giữa kiểm chế tài chính và tự do hoá tải chính, cơ chễ nào sẽ tốt hơn? 1. Khải niệm kiểm chế tài chính Kiểm chế tài chính là sự bóp méo các hoạt động của thị trường tài chính do có sự can thiệp và kiểm soát không theo quy luật thị trường của Chính phủ [17]. Chính phủ thưởng xuyên can thiệp quá mức vào hoạt động và các quá trình tài chính bằng những biện pháp mang tính áp đặt với mục đích nhằm gia tăng dòng chảy của các nguồn lực tài chính trong nước về cho khu vực công mà không cần phải tăng thuế. Vì vậy, giá cả ở khu vực tài chính thường vượt ra khỏi điểm cân bằng thị trường của chúng.
* Tác động của những can thiệp của Chính phú vào hệ thông tài chính Bằng cơ chế kiềm chế tài chính, Chính phủ có thể bù đắp thâm hụt của mình và tải trợ cho các ngành được xem là công cụ mũi nhọn của nền kinh tế. Trong khi đỏ, chính những biện pháp can thiệp của Chính phủ đã khiến cho khu vực tư nhân không có cơ hội vay vốn tín dụng, không có khả năng phát triển đầu tư dẫn tới hạn chế tăng trưởng kinh tế và gây bat ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ có thể can thiệp vào hệ thống tải chính bằng một hoặc tất cả các công cụ sau: Quy định trần lãi suất Chính phủ có thể đưa ra hoặc trần lãi suất tiền gửi hoặc trần lãi suất cho vay hoặc cả hai, Tác động của việc quy định trần lãi suất là làm cho lãi suất thực trở nên méo mó và không phản ánh được khan hiểm của đồng vốn. Nhà kinh tế học Fry ( 1995) đã chỉ ra tác động của việc giữ lãi suất thực thấp hơn mức cạnh tranh trên thị trường tự do là: Lãi suất thấp không kích thích tiêu ding trong tương lai mà kích thích tiêu dùng trong hiện tại, do đó tiết kiệm sẽ giảm dưới mức cỏ thể.
Những người cho vay tiềm năng sẽ tỏ ra thích đầu tư vào các dự án sinh lợi thấp của mình hơn là ký thác tiền vào ngân hàng. Những người đi vay ngân hàng có thể nhận được các khoản vay với lãi suất thấp hơn có thể sẽ chọn dự án đầu tư sinh lợi thấp hơn. Đội ngũ những người đi vay sẽ có thêm những nhà đầu tư có mức sinh lợi dự án thấp mà họ không thế hoặc không muốn vay khi lãi suất thực đạt mức có thể trên thị trường tự do. Trần lãi suất cho vay còn dẫn đến việc tín dụng không được phân phối dựa trên suất sinh lợi mong đợi của các dự án đầu tư cạnh tranh mà dựa trên chỉ phí giao dịch và mức độ an toàn của các dự an.
% Quy dinh tỷ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu NHTW thường quy định cho các NHTM phải trích một tỷ lệ nhất định trong tổng số các khoản ký thác đem gởi tại NHTW để đảm bảo khả năng thanh toán cho các NHTM. Mặt trái của việc này là làm giảm khối lượng nguồn quỹ cho vay và làm gia tăng quá mức khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Tác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực chất là khoản cho vay bắt buộc không trả lãi của NHTW từ NHTM. Một mặt nào đó có thé xem đây là sự chỉ định tín dụng.
s* Chỉ định tín dụng Một số Chính phủ chỉ định cho các tổ chức tài chính trung gian của họ phải đầu tư một phần nguồn quỹ cho vay vào một khu vực nhất định với lãi suất thấp. Các khu vực được chỉ định thường là các khu vực có năng suất thấp và/hoặc thời gian khấu hao rất lâu, mà trong điều kiện cạnh tranh, các nhà đầu tư có các dự án trong khu vực này không có lợi thế khi vay vốn. Khu vực này cũng, bao gồm một số doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả nhưng nhận được bảo hộ của nhà nước hoặc một số doanh nghiệp có độ rủi ro cao đo phụ thuộc vào tự nhiên. Tác động của chương trình chỉ định tín dụng là: Thứ nhất là làm cho các ngân hàng thụ động trong việc cung cấp tín dụng một cách có hiệu quả, nhiều cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi cao hơn nhưng không nhận được vốn tín dụng để đầu tư.
Thứ hai là tạo ra tính ÿ lại của khu vực được bảo hộ, họ không tích cực cải thiện sản xuất. Các khoản tín dụng cấp cho khu vực nảy thường được sự bảo lãnh của nhà nước. Khi không thanh toán được nợ khi đến hạn thì nhà nước sẽ đứng ra trả khoản nợ nảy bằng cách này hay cách khác. Do đó, một chương trình chỉ định tín dụng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự dn định vĩ mô.
Ngoài ra, những biện pháp về kiểm soát ngoại hồi, hạn chế sự phát triển của thị trường tư nhân. cũng góp phần tạo ra kiểm chế tài chính. Nói tóm lại, nhà nước không nên can thiệp trực tiếp vào hệ thống tài chính vì sự can thiệp này làm mất đi tính chủ động của hệ thống tài chính và làm chơ hệ thống tài chính không phát triển được, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Một hệ thống tài chính được tự do hơn sẽ tốt hơn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Khai niém ty do hoa tai chinh Trái ngược với khái niệm kiềm chế tài chính là tự do hoá tài chính. Tự do hoá tài chính là một nền tài chính ma trong đó không có hoặc chỉ có sự can thiệp rất hạn chế của Chính phủ vào hoạt động và các quá trình tài chính. Trong một thị trường mả áp dụng cơ chế tự do hoá tài chính, các quan hệ, các giao địch tài chính vận động theo cơ chế thị trường, các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ những nơi có hiệu suất sinh lợi thấp đến những nơi có hiệu suất sinh lợi cao mà không gặp phải một rào cản nào [19]. Có thể phân chia tự do hoá tài chính thành hai cấp độ sau: Thứ nhất là tự do hoá tài chính trong phạm vì quốc gia, cụ thể là việc xoá bỏ kiếm soát lãi suất, xoá bỏ việc phân bé tin dụng, tang kha năng cạnh tranh của các ngân hàng, các tổ chức tài chính trong việc thu hút vốn đầu tư, giảm bớt sự can thiệp của Chính phủ trong phân bổ tin dụng, trong bảo lãnh các khoản vay.
Thứ hai là mở rộng tự do hoá tài chính thể hiện qua việc bãi bỏ các biện pháp kiểm soát vốn và những rào cản trong quán lý ngoại hồi, tiến tới tự do hoá trong lĩnh vực chuyển đổi tiền tệ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tự đo hoá tài chính là xu thế tất yếu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. NỘI DUNG THỰC HIỆN TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Nhìn chung, tự do hoa tài chính bao gềm 4 nội dung cơ bản sau: 1.