Chương 1: Giới thiệu. Phần này sẽ tập trung trình bày về lý do thực hiện đề tài và mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu. Nội dung chính của chương này là trình bày các kết quả thực nghiệm về tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã được xác đinh, tác giả sẽ trình bày phương pháp thực hiện, mô hình nghiên cứu cũng như nguồn số liệu và phương pháp thu thập số liệu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày chi tiết các kết quả thực nghiệm dựa trên nguồn số liệu và phương pháp nghiên cứu đã xác định ở chương 3.
Chương 5: Kết luận. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chương 4, tác giả sẽ đưa ra những nhận định, giải pháp cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Trong phần này tác giả sẽ trình bày về những mặt hạn chế và hướng phát triển tiếp theo cho đề tài. 123doc -4- CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.
Quan điểm tích cực về tự do hóa tài chính Xu hướng thiên về tự do hóa tài chính là một phần của xu hướng lớn hơn hướng tới giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nền kinh tế. Tuy nhiên, tại một số quốc gia đang phát triển, tự do hóa tài chính cũng là một nỗ lực nhằm thoát khỏi “sự áp chế tài chính”. Việc đi từ áp chế tài chính đến tự do hóa tài chính được cổ vũ bởi các công trình nghiên cứu có ảnh hưởng của McKinnon và Shaw (1973). Theo McKinnon và Shaw, áp chế tài chính thông qua cơ chế buộc các tổ chức tài chính chi trả lãi suất thực thấp và thường có giá trị âm sẽ làm giảm tiết kiệm tư nhân và qua đó sẽ làm giảm các nguồn lực dành để tích lũy vốn.
Xét theo góc độ này, tự do hóa tài chính có thể giúp các quốc gia đang phát triển kích thích tiết kiệm trong nước và tăng trưởng, đồng thời giảm sự phụ thuộc quá mức vào các dòng vốn nước ngoài. Nghiên cứu của McKinnon và Shaw đã khơi dậy một dòng nghiên cứu đang lớn mạnh nhằm phân tích tác động tích cực của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế thông qua tăng năng suất thay vì huy động tiết kiệm (Levine 1997). Nghiên cứu này bao gồm một số công trình thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng; hầu hết các nghiên cứu nhận thấy các đại lượng khác nhau đo lường sự phát triển tài chính có tương quan đồng biến với cả tốc độ tăng trưởng GDP hiện tại và tương lai. Từ đó cho thấy rằng tự do hóa tài chính, bằng cách tăng cường phát triển tài chính, có thể làm tăng tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế (King và Levine 1993).
Tuy nhiên quan điểm tích cực của tự do hóa tài chính phần nào bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng rõ rệt tình trạng mỏng manh về tài chính mà cả các quốc gia đã phát triển và đang phát triển đều trải qua trong những năm 80 và 90. Phần tiếp theo luận văn sẽ trình bày những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính. Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính 2. Công trình nghiên cứu của Min Bahadur Shrestha (2005) Nghiên cứu có thể đánh giá là có mối tương quan nhiều với Việt Nam là công trình nghiên cứu thực nghiệm của Min Bahadur Shrestha (2005) về “Mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính của Nepal”.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp bình phương bé nhất dựa trên mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) để xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 2003 tại Nepal. Để phục vụ cho việc kiểm định mối quan hệ này, Shrestha đã xây dựng chỉ số tự do hóa tài chính (financial liberalization index – FLI) cho Nepal bằng phương pháp thành phần chính. Chỉ số này còn thể hiện mức độ tự do hóa tài chính tại một thời điểm, là công cụ để xem xét tình trạng tự do hóa tài chính và đánh giá ảnh hưởng của chính sách đối với các khía cạnh của nền kinh tế. Shrestha sử dụng hàm logit đa biến để kiểm định xem liệu tự do hóa tài chính có gây ra bất ổn tài chính cho Nepal không.
Tập hợp các biến trong mô hình hồi quy bao gồm: Tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng – LnCDR (đại diện cho tính bất ổn tài chính), lãi suất thực – LnLRR, chỉ số tự do hóa tài chính – FLI. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mặc dù Nepal đã tiến hành tự do hóa tài chính từ năm 1970 nhưng giai đoạn từ năm 1984 đến 1994 là thời kỳ Nepal sử dụng nhiều chính sách tự do hóa tài chính nhất. Kiểm định ARDL cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa chỉ số tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính. Mối quan hệ này được xác định với mức ý nghĩa 1%.
Kết quả này cho thấy một sự gia tăng trong chỉ số tự do hóa tài chính có liên quan đến một sự gia tăng của tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng cao hơn có liên quan đến các khoản nợ 123doc -6- xấu cao hơn, và điều này có thể gây ảnh hưởng ngược đối với sự ổn định trong lĩnh vực tài chính. Từ quan điểm này, kết quả trên cho thấy tổng hợp các chính sách tự do hóa tài chính có thể gây ra tính bất ổn trong lĩnh vực tài chính. Công trình nghiên cứu của Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache (1998) Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache (1998) đã thiết lập một biến giả cho tự do hóa tài chính của một số lớn các quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1980-1995.
Để xác định tự do hóa, Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache chọn một thay đổi chính sách có thể quan sát được, đó là việc bãi bỏ quy định về lãi suất ngân hàng, vì các trường hợp nghiên cứu cho thấy rằng chính sách thường là trung tâm của quá trình tự do hóa chung. Hệ thống số liệu nghiên cứu bao gồm những quốc gia đã tự do hóa các thị trường tài chính trước thập niên 80 cũng như những quốc gia đã tự do hóa ở những thời điểm khác nhau trong khoảng thời gian nói trên. Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache đã dùng hàm logit đa biến để kiểm định xem các cuộc khủng hoảng ngân hàng có khả năng xảy ra nhiều hơn trong các hệ thống tài chính tự do hơn hay không khi các yếu tố khác có thể làm tăng xác suất xảy ra khủng hoảng đều đã được kiểm soát. Tập hợp các biến kiểm soát bao gồm các biến kinh tế vĩ mô, các đặc điểm của khu vực ngân hàng và các biến về thể chế.
Hai tác giả cũng kiểm định xem liệu các cuộc khủng hoảng có khả năng xảy ra nhiều hơn trong quá trình chuyển đổi sang một hệ thống tài chính ít được kiểm soát hơn, hay thực ra thì tình trạng mỏng manh về tài chính là một đặc điểm luôn tồn tại của tự do hóa tài chính. Một vấn đề khác thường phát sinh trong tranh luận về tự do hóa tài chính là liệu có phải những mối nguy hiểm của tự do hóa cao hơn tại những nước mà các thể chế cần thiết để hỗ trợ sự vận hành hiệu quả của các hệ thống tài chính không được phát triển đầy đủ. Những thể chế này bao gồm quy định kinh doanh cẩn trọng, giám sát các trung gian tài chính và các thị trường chứng khoán có tổ chức và một cơ chế 123doc -7- vận hành tốt để cưỡng chế thi hành các hợp đồng và các quy định điều tiết. Hai tác giả đã khảo sát vấn đề này thông qua việc kiểm định xem mối quan hệ giữa khủng hoảng ngân hàng và tự do hóa tài chính có mạnh hơn tại những nước có môi trường thể chế yếu kém hơn hay không.
Thước đo được sử dụng là GDP đầu người và các chỉ số khác nhau đại diện cho chất lượng thể chế. Hai tác giả sử dụng các phương pháp kiểm tra để chứng minh tính vững mạnh của kết quả. Kết quả chung là: khủng hoảng ngân hàng quả thật có khả năng xảy ra nhiều hơn tại những nước có khu vực tài chính tự do hóa, ngay cả khi các yếu tố khác (bao gồm lãi suất thực) đã được kiểm soát; ngoài ra, tình trạng mỏng manh của hệ thống ngân hàng gia tăng không phải là một đặc trưng của kết quả tức thời của việc tự do hóa; mà đúng hơn, nó có xu hướng xuất hiện một vài năm sau khi quá trình tự do hóa bắt đầu. Số liệu cũng ủng hộ cho sự phỏng đoán là một môi trường thể chế yếu kém sẽ làm cho việc tự do hóa có khả năng dẫn đến khủng hoảng ngân hàng nhiều hơn; đặc biệt, tại những quốc gia có thể chế luật pháp yếu kém, tham nhũng lan tràn, hoạt động quản lý nhà nước không hiệu quả và cơ chế cưỡng chế thi hành hợp đồng không hữu hiệu, tự do hóa tài chính có xu hướng gây ra một tác động đặc biệt lớn đối với xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng.
Như vậy, có những bằng chứng rõ ràng rằng tự do hóa tài chính làm tăng tình trạng mỏng manh về tài chính tại những quốc gia đang phát triển, nơi mà những thể chế cần thiết để hỗ trợ cho một hệ thống tài chính vận hành trôi chảy vẫn chưa được thiết lập hoàn chỉnh. Để tìm hiểu một kênh khả dĩ qua đó tự do hóa có thể ảnh hưởng đến tình trạng mỏng manh của ngân hàng, hai tác giả sử dụng số liệu ở cấp độ ngân hàng để xem xét mối tương quan giữa các biến đại diện cho giá trị giấy phép hoạt động ngân hàng và biến giả về tự do hóa tài chính. Họ tìm thấy bằng chứng rằng giá trị giấy phép hoạt động đặc quyền của ngân hàng (franchise value) có xu hướng thấp hơn khi các thị trường tài chính được tự do hóa, có lẽ bởi vì sức mạnh độc quyền của ngân hàng bị xói mòn.