Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài. Chương này cung cấp các thông tin cơ bản như xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu cũng như các đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của nghiên cứu, giúp người đọc hiểu bao quát về đề tài. Đồng thời, chương này cũng trình bày kết cấu của nghiên cứu. Chương 2: Chương này trình bày các khái niệm về định hướng học hỏi, sự đổi mới doanh nghiệp và các thành phần của chúng.
Đồng thời, trong chương cũng trình bày tóm lược kết quả các nghiên cứu trước đây về nội dung này. Dựa vào các cơ sở đó, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu cũng được đề xuất và trình bày trong chương. Chương 3: Chương gồm 3 nội dung chính (1) xây dựng thang đo: trình bày quá trình xây dựng bản câu hỏi, phỏng vấn và nghiên cứu thử để hiệu chỉnh bản câu hỏi và xây dựng thang đo mới, (2) khảo sát, thu thập thông tin: trình bày phương thức lấy mẫu điều tra và mô tả mẫu nghiên cứu, (3) xử lý dữ liệu khảo sát: dựa trên kết quả phân tích của phần mềm xử lý dữ liệu SPSS, bao gồm các bước kiểm tra sự tương quan, kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá và kiểm định mô hình, các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra trong chương 2. Chương 4: Chương này trình bày các thảo luận kết quả của nghiên cứu, bao gồm thảo luận về kết quả từ mô hình chạy hồi quy của SPSS và kết quả phân tích tác động của các biến phụ (biến định tính) đến định hướng học hỏi và sự đổi mới của doanh nghiệp nhằm làm rõ thêm các vấn đề đặt ra trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
123doc 5 Chương 5: Dựa trên kết quả khảo sát từ chương 4, chương này trình bày một số hàm ý chính sách cho nhà quản trị để tăng cường sự đổi mới trong doanh nghiệp từ góc độ định hướng học hỏi. Ngoài ra, chương này cũng trình bày các đóng góp, ý nghĩa, các hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất một số hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày về mặt lý thuyết các nội dung có liên quan để làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu. Những khái niệm, mô hình của chương này sẽ được tiếp tục sử dụng cho những chương tiếp theo.
Chương này cũng trình bày mô hình và các giải thuyết nghiên cứu của đề tài. Sự đổi mới của doanh nghiệp Đổi mới (innovation) bắt nguồn từ tiếng Latinh “innovare” nghĩa là “làm mới, tạo ra, hoặc thay đổi”. Có nhiều khái niệm khác nhau về sự đổi mới tuỳ theo khía cạnh nghiên cứu, chẳng hạn theo góc nhìn của thị trường (khách hàng) hay doanh nghiệp (Szymanski, 2007), tập trung vào cá nhân, vào nhóm, dự án hay vào tổ chức (Calantone và ctg, 2002; Tajeddini, 2009), đổi mới sản phẩm hay quá trình, đổi mới hoàn toàn hay đổi mới một phần, đổi mới về mặt kỹ thuật hay đổi mới về mặt hành chính ( Read, 2000), phân tích từ góc độ hành vi (Deshpandé và ctg, 1993) hay từ nguồn lực của doanh nghiệp (Alvonitis, 2001), …. Theo Hurley và Hult (1998), sự đổi mới của doanh nghiệp là một phần của văn hoá doanh nghiệp, thể hiện mức độ chấp nhận đổi mới và khả năng áp dụng thành công những ý tưởng, quá trình, sản phẩm mới của doanh nghiệp.
Định nghĩa này được nhiều nhà nghiên cứu tán đồng và đưa ra các khái niệm tương tự, như: “là việc cho ra các quá trình, sản phẩm, hoặc ý tưởng mới của doanh nghiệp” (Hult và ctg, 2004); là “quá trình đưa ra, chấp nhận, phát triển, áp dụng một ý tưởng mới do doanh nghiệp tạo ra hoặc lấy từ bên ngoài” (García-Morales và ctg, 2006); là “sự phát sinh, chấp nhận và áp dụng những ý tưởng, quá trình, sản phẩm hoặc dịch vụ mới” (Calantone và ctg, 2002; Erdil và ctg, 2004),. Sự đổi mới của doanh nghiệp, theo các khái niệm này, là một quá trình gồm hai giai đoạn: Giai đoạn tiếp nhận (Tính mới): khi doanh nghiệp nhận ra những khác biệt 123doc 7 giữa hoạt động hiện tại của doanh nghiệp và các hoạt động tiêu chuẩn để thỏa mãn thị trường và nhận ra các nhu cầu tiềm năng, doanh nghiệp có khuynh hướng thể hiện sự sẵn lòng để thay đổi. Lúc này, đổi mới sản phẩm chính là tính mở của doanh nghiệp đối với các ý tưởng mới (Hurley và Hult, 1998), thể hiện sự sẵn sàng chấp nhận đổi mới hay quay lưng lại với nó của tất cả các thành viên trong tổ chức. Yếu tố này rất quan trọng do để có một sản phẩm mới ra đời, đòi hỏi phải có những điểm mới tương thích như ý tưởng mới, năng lực sản xuất mới, các kỹ năng, nguồn lực mới,… hoặc vẫn những yếu tố sẵn có nhưng theo cách thức kết hợp mới, đòi hỏi sử dụng cùng lúc nhiều nguồn lực, đồng thời mang tính rủi ro cao đối với doanh nghiệp.
Do vậy, sự đổi mới chỉ có thể thực hiện được nếu doanh nghiệp có định hướng đổi mới, cam kết với đổi mới. Giai đoạn này gồm ba phần: bắt đầu với việc doanh nghiệp nhận thức sự cần thiết phải đổi mới, hình thành thái độ với đổi mới (sẵn sàng học hỏi, tiếp nhận ý tưởng mới hay xem đổi mới là đầy rủi ro và không chấp nhận nó), tiếp theo là đánh giá và cuối cùng là ra quyết định (chấp nhận hay từ chối các ý tưởng đó) (Verhees, 2005; Frambach và Schillewaert, 2002). Giai đoạn này thể hiện quan điểm về cam kết với đổi mới của doanh nghiệp. Giai đoạn ứng dụng (Khả năng đổi mới): là sự thể hiện mức độ thực hiện đổi mới của doanh nghiệp hay khả năng đổi mới của doanh nghiệp (Hurley và Hult, 1998).
Theo đó, đổi mới là khả năng tiếp nhận hoặc áp dụng thành công những ý tưởng mới, quá trình mới hoặc sản phẩm mới của doanh nghiệp (Hurtley và Hult, 1998; Erdil và ctg, 2004). Doanh nghiệp có thể là đơn vị đầu tiên tiếp nhận ý tưởng và đổi mới thành công ra thị trường hoặc cũng có thể là tiếp nhận và ứng dụng sau những đơn vị khác. Khả năng đổi mới của doanh nghiệp là rất quan trọng vì nó là tài sản của doanh nghiệp, thể hiện mức độ thích nghi của doanh nghiệp với các thay đổi của môi trường hoạt động. Những doanh nghiệp có khả năng đổi mới cao sẽ thành công hơn trong việc ứng phó lại với các thay đổi của môi trường kinh doanh cũng như phát triển những khả năng mới tạo lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh vượt 123doc 8 trội.
Theo Hurley và Hult (1998), khả năng đổi mới của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng số lượng những cái mới mà doanh nghiệp có thể chấp nhận và ứng dụng thành công. Như vậy, kết quả của sự đổi mới khá đa dạng, không chỉ là đổi mới về mặt kỹ thuật, máy móc thiết bị, đổi mới sản phẩm, quy trình sản xuất mới, mà còn bao gồm cả đổi mới về phương pháp quản lý, lãnh đạo, quản lý nguồn lực hoặc các mối quan hệ nội bộ (Hurley và Hult, 1998; Rodriguez, 2006),…. Định hướng học hỏi Khái niệm định hướng học hỏi xuất phát từ lý thuyết về học hỏi của tổ chức (organisational learning). Có rất nhiều nghiên cứu và khái niệm về học hỏi của tổ chức.
Hệ thống lại, Sinkula và ctg (1997) cho rằng học hỏi của tổ chức là một quá trình tuần hoàn mà qua đó, thông tin thị trường được chuyển thành tri thức của cá nhân, và tri thức của mỗi cá nhân được chia sẻ trong doanh nghiệp để các cá nhân khác trong doanh nghiệp đều có thể sử dụng, các thông tin thu thập được chuyển hóa thành tri thức của cả tổ chức giúp tổ chức tiếp nhận, xử lý và phản ứng kịp thời với các thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài. Quá trình này gồm ba thành phần cốt lõi là: các giá trị của tổ chức, quá trình xử lý thông tin thị trường và các hành động của tổ chức. Ba thành phần này có mối quan hệ tác động lẫn nhau. Trong đó, định hướng học hỏi thuộc về thành phần đầu tiên – các giá trị của tổ chức, là “tập hợp các giá trị gây ảnh hưởng đến thiên hướng tạo ra và sử dụng tri thức của doanh nghiệp”.
Khái niệm này nhấn mạnh đến các yếu tố tạo ra và nuôi dưỡng sự khát khao học hỏi của tổ chức – được gọi là các giá trị của tổ chức. Các yếu tố này bao gồm: cam kết học hỏi, chia sẻ tầm nhìn và xu hướng thoáng. 123doc 9 Xử lý thông tin Thông tin đầu ra Thu thập Cam kết học thông tin thị hỏi trường Các chiến Chia sẻ tầm Chia sẻ thông lược về nhìn Định hướng tin về thị marketing học hỏi trường Xu hướng thoáng Thông tin Kho dữ liệu của tổ chức đầu ra CÁC GIÁ TRỊ CỦA TỔ QUÁ TRÌNH XỬ LÝ THÔNG HÀNH ĐỘNG CỦA CHỨC TIN THỊ TRƯỜNG TỔ CHỨC Nguồn: Sinkula, JM, Baker, WE, Noordewier, T (1997), “A Framework for Market-Based Organizational Learning: Linking Values, Knowledged, and Behavior”, Journal of the Academy of Marketing Science, 25(4): 305-318 [23]. Mô hình lý thuyết học hỏi tổ chức của Sinkula và ctg (1997) Theo Calantone và ctg, (2002) định hướng học hỏi phản ánh “hoạt động của cả doanh nghiệp trong việc tạo ra và ứng dụng tri thức trong quá trình hoạt động để tăng cường lợi thế cạnh tranh”.
Khái niệm này nhấn mạnh đến hai vấn đề. Thứ nhất, định hướng học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của các cấp quản lý mà là của toàn bộ mọi cá nhân trong tổ chức. Thứ hai, định hướng học hỏi là quá trình xử lý thông tin thị trường để chuyển thành tri thức. Mỗi cá nhân đều thực hiện một quá trình gồm nhận thức, xử lý và chia sẻ các thông tin về nhu cầu khách hàng, các thay đổi của thị trường, và các hoạt động của đối thủ cạnh tranh, cũng như các kỹ thuật mới, từ đó giúp doanh nghiệp có những thay đổi trong hoạt động để không chỉ thích nghi với những thay đổi của môi trường hoạt động mà còn tạo ra được các sản phẩm mới ưu việt hơn so với đối thủ cạnh tranh.
123doc 10 Tuy nhiên, theo Sinkula và ctg (1997), định hướng học hỏi là thể hiện các giá trị của tổ chức, còn quá trình xử lý thông tin thị trường thể hiện hành vi tạo ra tri thức, mà giá trị định hướng cho hành vi nên trong quá trình học hỏi của tổ chức, quá trình xử lý thông tin thị trường không phải là định hướng học hỏi mà chỉ có thể là đầu ra và đầu vào của định hướng học hỏi mà thôi.