Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 CƠ SỞ KHÁCH QUAN CHO SỰ CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC VÀO NỀN KINH TẾ Ngay từ khi con người xuất hiện trong tiến trình lịch sử, cuộc sống cộng đồng đã hình thành, lúc đầu chỉ diễn ra trên quy mô nhỏ hẹp (nhóm, bầy, đàn,…) rồi mới phát triển thành các cộng đồng có quy mô lớn hơn. Trong cuộc sống cộng đồng, giữa con người tất yếu nảy sinh các xung đột đòi hỏi phải có một cơ chế và tổ chức xử lý các xung đột ấy, dần dần hình thành các quy tắc xử sự chung được tuyệt đại đa số trong cộng đồng chấp thuận và tuân thủ. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất còn kém phát triển, xã hội chưa có của cải dư thừa, chưa có tư hữu và xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người thì những quy tắc xử sự chung của toàn xã hội, mà hình thức biểu hiện của nó là các phong tục tập quán, các lễ nghi tôn giáo được thực hiện bằng sự tự giác của mỗi người trong xã hội và bằng uy tín của các thủ lĩnh trong cộng đồng. Sau khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã, xã hội loài người phân chia thành giai cấp, bắt đầu xuất hiện sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các nhóm, các tập đoàn người, thì sự đấu tranh giữa họ với nhau ngày càng trở nên gay gắt.
Trong điều kiện ấy, để giữ cho xã hội trong vòng kỷ cương nhất định, giai cấp thống trị nắm trong tay những tư liệu sản xuất, những của cải chủ yếu, những công cụ bạo lực lớn – các yếu tố chủ yếu tạo ra quyền lực xã hội, tìm cách tổ chức nên một thiết chế đặc biệt – thiết chế nhà nước và nhà nước bắt đầu xuất hiện. Nhà nước vừa là một thiết chế xã hội, vừa là một tổ chức xã hội. Là một thiết chế xã hội nên nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị. Là một tổ chức xã hội nên nhà nước đồng thời là bộ máy công quyền được sử dụng để duy trì trật tự xã hội vì lợi ích của giai cấp thống trị và của xã hội.
Xã hội càng phát triển thì vai trò của nhà nước ngày càng tăng lên. 123doc 2 Trong các đặc trưng về chất, đặc trưng về mặt kinh tế bao gồm vấn đề sản xuất và vấn đề lợi ích kinh tế là quan trọng nhất, bởi vì các hoạt động kinh tế ngày một trở thành những hoạt động cốt lõi của xã hội. Vấn đề nhà nước có nên can thiệp vào nền kinh tế hay không là nội dung được các nhà kinh tế học tranh luận qua nhiều thế kỷ. Trong lịch sử, đã từng xuất hiện hai trào lưu tư tưởng kinh tế, đó là: Tư tưởng tự do kinh tế (bàn tay vô hình) và tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế (bàn tay hữu hình).
Ngược dòng lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế, trường phái kinh tế học trọng nông mà đại diện là Francois Quesay với lý thuyết “Trật tự tự nhiên” đã ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế. Tiếp theo là Adam Smith đưa ra thuyết “Bàn tay vô hình” và nguyên lý “Nhà nước không can thiệp” vào hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, Adam Smith cũng thừa nhận rằng, đôi khi nhà nước cũng có nhiệm vụ kinh tế nhất định khi mà nhiệm vụ kinh tế vượt quá khả năng của khu vực tư nhân. Các nhà kinh tế học trường phái cổ điển đều thấy một thực tế là theo đà phát triển của sản xuất, chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng, do đó vai trò của nhà nước sẽ tăng lên.
Tuy nhiên, họ vẫn cho rằng, tự do kinh tế là sức mạnh hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra thường xuyên, đặc biệt cuộc khủng hoảng quy mô lớn 1929 – 1933 chứng tỏ “Bàn tay vô hình” đã không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho kinh tế thị trường phát triển và nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes đã đưa ra lý thuyết “Điều tiết kinh tế của nhà nước” – nhà nước can thiệp vào kinh tế ở tầm vĩ mô và vi mô. Ở tầm vĩ mô, nhà nước sử dụng các công cụ như lãi suất, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, bảo hiểm,. Ở tầm vi mô, nhà nước trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng.
Học thuyết Keynes đã cứu chủ nghĩa tư bản khỏi những cơn khủng hoảng kinh tế, nhưng những chấn động lớn trong nền kinh tế vẫn diễn ra, tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát vẫn xảy ra ngày càng trầm trọng. Lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” của Paul Anthony Samuelson – phối hợp “Bàn tay vô hình” của thị trường và “Bàn tay hữu hình” của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế đã ra đời và phát huy tác dụng. Thực tế đã thừa nhận rằng, các nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cả cơ chế thị trường và cả sự quản lý của nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, mọi nhà nước, bất kể nhà nước đó thuộc chế độ chính trị nào, cũng đều phải can thiệp, quản lý nền kinh tế ấy, vì (i) Cơ chế thị trường là một cơ 123doc 3 chế rất tinh vi.
Nếu hoạt động trôi chảy, cơ chế đó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế rất cao. Nhưng cơ chế thị trường không phải là cơ chế có thể giải quyết được mọi vấn đề. Cơ chế thị trường vận động tự phát tất yếu dẫn đến cơ cấu kinh tế mất cân đối, phân hóa giàu nghèo,. (ii) Trong kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh đều lao vào cạnh tranh nên rất ít quan tâm đến những ngành không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp nhưng lại rất cần thiết đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Vì vậy, phải có sự quản lý của nhà nước để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Vì những lý do đó, trong cơ chế thị trường thuộc bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào, vai trò của nhà nước không hề bị suy giảm. Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước can thiệp và kiểm soát tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội bằng các chỉ tiêu pháp lệnh và các mệnh lệnh hành chính thì trong nền kinh tế thị trường nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều chỉnh vĩ mô đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, tức là điều chỉnh những khuyết tật mà nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được thông qua các công cụ như: Hệ thống pháp luật Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân Lực lượng kinh tế của nhà nước Các công cụ tài chính: hệ thống thuế, ngân sách nhà nước Các công cụ tiền tệ Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại Trong đó, ngân sách nhà nước (NSNN) có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Bởi vì phạm vi phát huy vai trò của NSNN rất rộng và với mức độ lớn, nó tương đồng với phạm vi phát huy chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Nói một cách khác, do cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía nhà nước nhưng nhà nước chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo – tức là phải sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ NSNN. Thông qua việc hình thành và sử dụng NSNN, nhà nước điều chỉnh phân bố các nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo công bằng trong phân phối và thực hiện các chức năng của mình.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước 1.1 Ngân sách nhà nước Thuật ngữ “ngân sách nhà nước” chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ XVII trở lại đây. Sự ra đời thể chế NSNN là kết quả của tiến trình đấu tranh liên tục của giai cấp tư sản đối với nhà nước phong kiến trong giai đoạn đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa để mở đường cho sự phát triển nền kinh tế thị trường. NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của nhà nước.
Khái niệm NSNN phản ánh những thể chế được xã hội thiết lập bằng hệ thống pháp luật nhằm mục đích ấn định con số chi tiêu trong một năm mà nhà nước phải tìm kiếm nguồn để tài trợ; đồng thời, nhà nước đưa ra những quy tắc về kế toán để theo dõi chi tiết và chặt chẽ các khoản chi tiêu của nhà nước với mục đích kiểm soát các khoản chi, tránh sự phí phạm các khoản chi tiêu cho những hoạt động không được ghi vào trong ngân sách để sao cho chi tiêu của nhà nước được hợp pháp và có thể được tài trợ bằng các nguồn thu ổn định. NSNN là công cụ rất quan trọng để tác động vào nền kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng và công bằng xã hội, là hình thức cơ bản để hình thành và sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung nhằm mở rộng sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dân. NSNN được sử dụng không chỉ nhằm bảo đảm sự tăng trưởng về của cải vật chất mà còn cả sự phát triển về mặt văn hóa – xã hội. NSNN là một phần nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế nhà nước.
Nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế nhà nước được hiểu là nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước bao gồm nguồn lực tài chính nằm trong NSNN, các tổ chức thuộc nhà nước và nguồn lực tài chính từ các doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp do nhà nước sở hữu cổ phần chi phối hoặc sở hữu toàn bộ). Đây là nguồn lực tài chính quan trọng đảm bảo cho nhà nước vận hành bình thường và thực hiện các chức năng của nó.