phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng, 9 tiết. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THU HÚT ĐẦU TƢ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những lý luận chung về khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp Sự ra đời của KCN thế giới bắt đầu từ đầu từ đầu thế kỉ 18 khi các nƣớc quan tâm mở rộng quan hệ quốc tế, dùng các loại thuế truyền thống và hàng rào thuế quan khe khắt đối với những sản phẩm hàng hoá vào lãnh thổ của mình.
KCN phát triển mạnh vào cuối thế kỉ 20, đặc biệt là sau thế chiến thứ 2 (khoảng giữa thập kỉ 50) về cả quy mô, số lƣợng, loại hình và từng bƣớc hoàn chỉnh qua các thập kỉ 60, 70. KCN đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập năm 1896 ở Trađford Park, Manchester (Anh), Vùng công nghiệp Cliearing Chicago, bang Ilinois đƣợc coi là khu công nghiệp đầu tiên tại Mỹ. Năm 1940, Italia cũng thành lập một KCN ở Napoli, đến thập kỉ 1950 – 1960, ở Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1000 KCN, sau đó tăng lên 2400 KCN vào năm 1970. Tại Pháp có 230 KCN (năm 1963) và Canada có 21 vùng công nghiệp (năm 1965).
Các nƣớc đang phát triển bắt đầu vào thập kỉ 60 mới có 90 KCN ở 9 nƣớc thì đến cuối thập kỉ 90 có 111 KCN ở 40 nƣớc. Nhìn chung, mô hình KCN đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nƣớc trên thế giới, trở thành mô hình tiến bộ đối với chƣơng trình phát triển công nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở các nƣớc đang phát triển vào những năm 1960 - 1970 nhƣ: Đài Loan, Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaisia, Philippin, Trung Quốc, Thái Lan. Trên thế giới hiện có hàng ngàn KCN đƣợc thành lập, riêng các nƣớc đang phát triển có khoảng 600 KCN. Sự phát triển các KCN ở các nƣớc không đồng đều, có nƣớc không thành công, nhƣng số lƣợng loại hình này 7 z không ngừng tăng lên.
Đến nay, việc xây dựng phát triển các KCN có nhiều thay đổi. Các nƣớc tập trung đi sâu vào quản lí chất lƣợng, vừa tạo môi trƣờng thuận lợi, hiệu quả cho hoạt động của doanh nghiệp, vừa đảm bảo sự bền vững cho xã hội và môi trƣờng Trên thế giới, khái niệm KCN có một số cách hiểu sau: - Thái lan : KCN tƣơng tự nhƣ một công viên công nghiệp. Mỗi KCN đƣợc quy hoạch đầy đủ với hệ tthống kết cấu hạ tầng động bộ, các khu nhà ở dành cho nhân công gắn kết với trung tâm thƣơng mại, dịch vụ phục vụ công nghiệp và sinh hoạt của cộng đồng dân cƣ. - Hiệp hội KCX thế giới (wepza) đã định nghĩa KCX, khu tự do: “Khu tự do là khu do chính phủ xây dựng để xúc tiến các mục tiêu chính sách đƣợc áp dụng thí điểm, đột phá, khác với chính sách áp dụng cho khu là cởi mở hơn”.
Nhƣ vậy, Khu tự do có nghĩa một cách tổng quát là khu vực đƣợc vây kín bằng hàng rào, với các “chốt” ra vào đƣợc kiểm soát và tại địa phận đó một số ƣu đãi về kinh tế đƣợc áp dụng. Khái niệm này về cơ bản đồng nhất KCN với khu vực miễn thuế - Tổ chức phát triển công nghiệp liên hiệp quốc (UNIDO): KCX là khu vực đƣợc giới hạn về hành chính, địa lí, đƣợc hƣởng chế độ thuế quan ƣu đãi nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuât khẩu, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài. Với khái niệm này, hoạt động chính trong KCX là sản xuất công nghiệp. Đối với nƣớc ta, KCX đƣợc đề cập đến từ khi miền bắc xây dựng khu gang thép Thái Nguyên; miền Nam xây dựng KCN Biên Hoà, nhƣng các khái niệm về KCN vẵn chƣa đƣợc làm rõ.
Khái niệm về KCN chính thức đƣợc thể hiện rõ tại Luật đầu tƣ nƣớc ngoài (sửa đổi năm 1996) nhƣ sau: Theo định nghĩa trong Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam thì: “khu công nghiệp là một lãnh địa đƣợc phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ 8 z tầng, phƣơng tiện công cộng phù hợp sự phát triển của một liên hiệp các ngành công nghiệp. Theo định nghĩa trong NĐ36 – CP: Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất. - KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
- KCX là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định do chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập Đến nay qua thời gian phát triển, Luật Đầu tƣ ngày 29/11/2005 đã định nghĩa: - Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ. - Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của chính phủ - Khu công nghiệp cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ƣơm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của chính phủ 9 z - Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trƣờng đầu tƣ và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tƣ, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ. Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tƣ vào KCN, KCX, KCNC, khu kinh tế, cụm công nghiệp (dƣới đây gọi chung là KCN) 1. Đặc điểm của các khu công nghiệp: Việc thành lập các khu công nghiệp có tác động nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nƣớc nhƣ: tổ chức cơ cấu lại kinh tế của vùng lãnh thổ, bố trí dân cƣ, bảo vệ môi trƣờng, nâng cao mức sống dân cƣ, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho khu vực Khu công nghiệp tập trung có những đặc điểm cơ bản sau: - Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có danh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng nhƣ hệ thống cung cấp điện nƣớc; chung hệ thống xử lý nƣớc thải, khí thải và các loại chất thải khác; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ liên quan.
Đầu ra của các doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau nhƣ sản phẩm của nhà máy này là linh kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm chi phí cho xã hội. - Các doanh nghiệp trong KCN đƣợc hƣởng quy chế riêng và ƣu đãi riêng theo quy định của chính phủ và cơ quan địa phƣơng sở tại, có chính sách kinh tế đặc thù, ƣu đãi nhằm thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, tạo môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp để tạo lập thành các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ƣu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm phí 10 z - Nguồn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu thu hút từ nƣớc ngoài hay các tổ chức cá nhân trong nƣớc. Ở các nƣớc khác, chính phủ thƣờng bỏ vốn đầu tƣ cơ sở hạ tầng. Nhƣng ở Việt Nam nhà nƣớc không có đủ vốn, vì thế việc đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng KCN đƣợc kêu gọi đầu tƣ từ vốn trong và ngoài nƣớc.
- Việc hình thành các KCN tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nƣớc, có tác dụng lan toả trƣớc hết là khu vực xung quanh KCN. - Sản phẩm của các nhà máy, doanh nghiệp trong KCN chủ yếu dành cho xuất khẩu, hƣớng ra thị trƣờng thế giới. Tuy nhiên để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc và thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà máy sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lƣợng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu. - Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trƣờng và diễn biến thị trƣờng quốc tế.
Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy điều tiết thị trƣờng làm chính. - KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài dƣới hình thức 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nhgiệp 100% vốn trong nƣớc. - Hoạt động trong KCN sẽ là tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nƣớc tiến hành theo các điều kiện bình đẳng 1. Phân loại khu công nghiệp chung Tuỳ theo góc độ tiếp cận có một số cách phân loại khác nhau về KCN.
Dƣới đây là hai cách phân loại cơ bản : - Theo tính chất ngành nghề, KCN được chia thành các loại: + KCN chuyên ngành: Đƣợc hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một số ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhƣng cùng sản 11 z xuất ra một loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ một số ngành chủ đạo nhƣ: hoá chất - hoá dầu, điện tử – tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (ở Việt Nam đã có khu gang thép Thái Nguyên, Hoá chất Việt Trì, Lọc dầu Dung Quất …) +KCN đa ngành (tổng hợp): Gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau.