CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ Có rất nhiều lý thuyết với các quan điểm khác nhau về thu hút đầu tư. Để biết được các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, chúng ta cần xem xét trước hết là các khái niệm về đầu tư, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu; sau đó là các lý thuyết về đầu tư và đầu tư quốc tế. Các khái niệm - Đầu tư: Theo luật đầu tư (Quốc Hội, 2005)[13], đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư.
Theo quan điểm của chủ đầu tư và xã hội thì đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực về vật chất và trí tuệ để sản xuất và kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Các nhà kinh tế học dùng thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa vốn mới, chẳng hạn như máy móc, nhà xưởng, nhà ở. Khi đề cập đến các tài sản tài chính, các nhà kinh tế nói là “đầu tư tài chính”, Olivier Blanchard (2000). Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: khái niệm đầu tư là sự bỏ vốn vào một DN, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh, hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng.
Có đầu tư sản xuất - xây dựng xí nghiệp, trang bị tư liệu sản xuất để sản xuất ra của cải và đem lại doanh lợi - và đầu tư dịch vụ - xây dựng những cơ sở phục vụ lợi ích công cộng như bệnh viện, trường học, thương mại, du lịch. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa, vốn mới như mặt bằng xây dựng, nhà xưởng và phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, mua, lắp đặt máy móc thiết bị, vốn lưu động. z 2 - Khu công nghiệp: Theo luật đầu tư (Quốc Hội, 2005)[13], Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục được quy định. KCN thường được xây dựng trên các vùng có nhiều đất trống, các nhà máy xây dựng trong khu được tập trung theo chiều dọc, do đó chi phí đầu vào và đầu ra của DN sẽ hạ thấp vì các nhà máy thường xây dựng sát cạnh nhau, đầu ra của nhà máy này cũng là đầu vào của nhà máy kia.
Ngoài ra, các DN khi đầu tư vào KCN sẽ giảm được nhiều chi phí như: chi phí mua đất, xây dựng đường dây tải điện, đường giao thông vận tải vào nhà máy, hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải rắn. Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các KCN so với phát triển công nghiệp tản mạn là tận dụng được lợi thế theo quy mô, tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường, đồng thời cung cấp các dịch vụ thuận lợi. - Khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu: Theo luật đầu tư (Quốc Hội, 2005)[13], Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định. Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế.
Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục được quy định. Các lý thuyết về đầu tư và đầu tư quốc tế Hymer (1960), lập luận rằng sự tồn tại của các công ty đa quốc gia là dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường là cấu trúc không hoàn hảo và chi phí giao dịch z 3 không hoàn hảo. Cấu trúc thị trường không hoàn hảo sẽ giúp các công ty độc quyền tạo được sức mạnh trên thị trường. Chi phí giao dịch không hoàn hảo tạo cơ hội cho các công ty độc quyền thu lợi nhuận thông qua việc sử dụng “thị trường nội bộ” thay cho những giao dịch ở bên ngoài.
Nghiên cứu về cấu trúc không hoàn hảo của thị trường - lý thuyết công nghiệp lập luận rằng khi đầu tư ra nước ngoài các DN FDI chịu nhiều chi phí và rủi ro hơn các DN nước sở tại. Để cạnh tranh với các DN này, DN FDI phải có những lợi thế để bù đắp được những chi phí phụ trội đó. Lợi thế đó là sức mạnh độc quyền ở một số mặt như: quy mô, kiến thức, sự khác biệt của sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm, công nghệ, mạng lưới phân phối và kỹ năng tiếp thị, khả năng tiếp cận với những nguồn vốn rẻ; Với nghiên cứu về chi phí giao dịch không hoàn hảo – lý thuyết nội vi hóa cho rằng việc nội vi hóa các giao dịch thông qua FDI có lợi hơn các giao dịch thông qua thị trường. Các lợi ích từ FDI bao gồm việc tiết kiệm thời gian đàm phán hợp đồng, cấp phép, tránh được những bất trắc trong đàm phán và rủi ro do sự thiếu tin tưởng giữa các đối tác, giảm thiểu những tác động của Chính phủ thông qua việc chuyển giá và khả năng phân biệt đối xử theo giá.Knickerbocker (1973), đưa ra lý thuyết hành vi chiến lược trên cơ sở xem xét giữa FDI và các đối thủ cạnh tranh trong ngành công nghiệp độc quyền nhóm cho rằng có sự đầu tư kéo theo khi một DN độc quyền nhóm đầu tư vào một thị trường khu vực, một nước hay một ngành nào đó thì các đối thủ cạnh tranh trong ngành sẽ theo chân DN tiên phong đầu tư vào thị trường đó như một hành vi chiến lược nhằm ngăn chặn không cho đối thủ nắm lợi thế trước mình.
Lý thuyết về xu hướng đầu tư quốc tế cho rằng: khi nền kinh tế phát triển, cấu trúc kinh tế thay đổi và cùng với nó mức độ và bản chất của đầu tư nước ngoài vào trong nước cũng như đầu tư trong nước ra nước ngoài cũng thay đổi. Như vậy, có một sự tác động qua lại giữa phát triển kinh tế và FDI. Khi FDI xuất hiện nó được định hình bởi xu hướng phát triển, và đến lượt mình FDI lại tác động lên xu hướng phát triển. Lợi thế cạnh tranh mà DN có phụ thuộc vào các tài sản họ có bao gồm cả tài sản tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên hay lao động phổ thông - và tài sản tạo dựng - z 4 nguồn nhân lực có tay nghề, vốn, công nghệ, các kỹ năng quản lý, tiếp thị.
Các hoạt động FDI dịch chuyển nguồn lực qua lại giữa các nước và góp phần làm thay đổi những đặc tính của sở hữu, địa điểm, nội vi hóa của các DN độc quyền. Dunning (1980), đưa ra lý thuyết chiết trung bằng cách tổng hợp ba dòng lý thuyết về FDI là lý thuyết tổ chức công nghiệp, lý thuyết nội vi hoá và lý thuyết địa điểm công nghiệp. Theo ông, một DN chỉ thực hiện FDI khi hội tụ ba điều kiện: (1) sở hữu / quy mô: DN phải sở hữu một số lợi thế so với DN khác như quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của DN; (2) nội vi hoá: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ DN có lợi hơn là bán hay cho các DN khác thuê; (3) địa điểm: Sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu. Lợi thế địa điểm có thể có được nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, các rào cản thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư và cả những tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho DN khi hoạt động tại đó.
Paul Krugman (1991), đề xuất ra lý thuyết địa lý kinh tế mới theo đó các hãng có xu hướng xác định vị trí sản xuất của mình ở những nơi “trung tâm” đông đúc dân cư và vốn, vì tận dụng được lợi thế nhờ quy mô. Nhưng việc này sẽ dẫn tới dân cư - vừa là người cung cấp lao động vừa là người tiêu dùng - sẽ càng di chuyển tới những “trung tâm” này vì ở đó có tính lợi thế quy mô cao hơn, cũng có nghĩa là giá cả hàng hóa rẻ hơn và sản phẩm đa dạng hơn. Sự hạn chế tập trung hóa chính là ở chi phí vận chuyển. Chi phí vận chuyển tới người tiêu dùng sẽ cao nếu như các hãng tập trung hóa ở một khu vực nhất định trong quốc gia.
Do đó, quyết định lựa chọn địa điểm sản xuất của các hãng phụ thuộc vào tương quan giữa việc tận dụng lợi thế quy mô và việc tiết kiệm chi phí vận chuyển. Giảm chi phí vận chuyển sẽ dẫn tới quá trình tập trung hóa và đô thị hóa. ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN Tất cả tỉnh, thành trong nước đều được Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn nhất định, trong đó kèm theo z 5 quyết định là định hướng các chương trình, dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư ứng với mỗi vùng, miền, tỉnh, thành. Do đó, chúng phải thể hiện các đặc trưng sau: • Thứ nhất, phù hợp với quan điểm phát triển của từng tỉnh, thành.