phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tƣ vào Khu Công nghệ cao Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng thu hút đầu tƣ vào Khu Công nghệ cao Hòa Lạc Chƣơng 4.
Giải pháp tăng cƣờng thu hút đầu tƣ vào Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ VÀO KHU CÔNG NGHỆ CAO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình có liên quan đến đề tài Xung quanh vấn đề thu hút đầu tƣ vào KCNC đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhƣng mỗi công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu luận văn, với khả năng của mình, tôi đã có cơ hội tiếp cận, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn nhƣ sau: - Nguyễn Ngọc Hiếu, 2014. Thu hút vốn đầu tư vào Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất ở Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu xây dựng tổng quan về tình hình đầu tƣ tại các KCN, KCX ở Việt Nam. Đề tài phản ánh thực trạng thu hút đầu tƣ hiện nay ở các KCN, KCX và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác thu hút vốn đầu tƣ vào các KCN, KCX chứ chƣa có các giải pháp và nghiên cứu về thu hút vốn đầu tƣ vào KCNC.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu Công nghệ cao Đà Nẵng; Luận văn thạc sĩ đề tài Thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào KCNC Đà Nẵng của tác giả Vũ Diệu Ngân là công trình nghiên cứu về công tác thu hút vốn FDI vào KCNC Đà Nẵng. Tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu về nguồn vốn FDI tại riêng KCNC Đà Nẵng. Nhìn chung công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Diệu Ngân có quy mô nghiên cứu hẹp và chỉ nghiên cứu chuyên sâu nguồn vốn FDI chứ chƣa có cái nhìn bao quát, tổng thể về công tác thu hút đầu tƣ nói chung nhƣ nguồn vốn trong và ngoài nƣớc, tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tƣ và nhân tố ảnh hƣởng đến việc thu hút vốn đầu tƣ trong lĩnh vực CNC. 5 z - Nguyễn Lâm Thanh, 2013.
Thu hút đầu tư vào các trung tâm phần mềm, các cơ sở ươm tạo công nghiệp công nghệ cao; KCNC có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo môi trƣờng thuận lợi thu hút FDI trong lĩnh vực CNC, đặc biệt là thu hút các tập đoàn đa quốc gia. Khu CNC còn là nơi thu hút, tập hợp lực lƣợng trí thức KH&CN trong cả nƣớc, trí thức Việt kiều và các nhà KH&CN nƣớc ngoài trong nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao công nghệ trực tiếp cho sản xuất và ƣơm tạo doanh nghiệp CNC. Ấn phẩm là kết quả nghiên cứu về thu hút đầu tƣ vào các Trung tâm phần mềm, các cơ sở ƣơm tạo. - Nguyễn Thế Hùng, 2013.
Báo cáo Tổng kết công tác thu hút đầu tư trong lĩnh vực CNC năm 2013; Báo cáo tổng kết công tác thu hút đầu tƣ vào lĩnh vực CNC hàng năm đƣợc xây dựng, tổng hợp từ số liệu báo cáo hàng tháng do phòng chuyên môn của 03 KCNC trên cả nƣớc thống kê và số liệu tình hình thu hút đầu tƣ vào lĩnh vực CNC do Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài - Bộ KH&ĐT cung cấp. Báo cáo cho ta cái nhìn toàn cảnh về tình hình thu hút đầu tƣ trong lĩnh vực CNC trên cả nƣớc, nhân tố ảnh hƣởng đến việc thu hút vốn đầu tƣ nhƣng chƣa đƣa ra những giải pháp nhằm khắc phục và củng cố công tác thu hút vốn đầu tƣ trong lĩnh vực CNC thời gian tới. Nội dung của báo cáo khái quát về 03 KCNC quốc gia: Hòa Lạc, TP. HCM, Đà Nẵng cũng nhƣ tổng hợp các kết quả đã đạt đƣợc trong công tác GPMB và thu hút một số dự án đầu tƣ.
Báo cáo cho ta cái nhìn tổng quan về cơ hội phát triển lĩnh vực CNC ở hiện tại và tƣơng lai. - Trần Phƣơng Thanh, 2014. Một số nghiên cứu về chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực CNC thông qua FDI; Tác giả đã nhấn mạnh việc thu hút FDI vào lĩnh vực CNC là ƣu tiên hàng đầu trong giai đoạn từ 2015 đến năm 2020, theo chiến lƣợc đầu tƣ theo chiều sâu, công nghệ hiện đại, tiên tiến với năng suất và chuỗi giá trị gia tăng cao. Đây là biện pháp hiệu quả nhằm khắc 6 z phục đƣợc những tồn tại cũng nhƣ thực hiện đƣợc mục tiêu hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và đề xuất các giải pháp thu hút FDI vào lĩnh vực này.
Ngoài ra, còn một số bài báo, bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành khác. Khoảng trống cần nghiên cứu Các công trình nghiên cứu nói trên, từ những góc độ khác nhau đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tầm quan trọng của công tác thu hút đầu tƣ vào lĩnh vực CNC. Tuy nhiên do mục đích khác nhau nên các công trình mới chủ yếu nghiên cứu ở góc độ khoa học hoặc nghiên cứu chính sách thu hút đầu tƣ vào các Khu Công viên phần mềm và các KCNC khác. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trên thƣờng dƣới dạng báo cáo nên nội dung còn rời rạc, chƣa chuyên sâu; số liệu ít, chƣa cập nhật; chƣa đánh giá toàn diện cả đầu tƣ trong nƣớc, đầu tƣ nƣớc ngoài tại KCNC Hoà Lạc cũng nhƣ tổng quát hết các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thu hút đầu tƣ vào KCNC Hòa Lạc.
Mặc dù vậy, đây là những tài liệu tham khảo quý giá cả về lý luận và thực tiễn, giúp cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Vì vậy, Đề tài “Thu hút đầu tƣ vào Khu Công nghệ cao Hòa Lạc” mang tính mới, cần thiết, nhằm kế thừa có chọn lọc, phát huy những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác thu hút đầu tƣ vào lĩnh vực CNC, từ đó tìm giải pháp nhằm thu hút hiệu quả đầu tƣ trong lĩnh vực này. Cơ sở lý luận về thu hút đầu tƣ vào Khu Công nghệ cao 1. Các khái niệm và đặc điểm * Đầu tư Hoạt động đầu tƣ (gọi tắt là đầu tƣ) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng 7 z các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng.
Hoạt động đầu tƣ bao gồm đầu tƣ trực tiếp và gián tiếp. - Hoạt động đầu tƣ gián tiếp là hoạt động bỏ vốn trong đó ngƣời đầu tƣ không trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tƣ đã bỏ ra. - Hoạt động đầu tƣ trực tiếp là hoạt động trong đó ngƣời bỏ vốn trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tƣ đã bỏ ra. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tƣ.
- Đầu tƣ theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt đƣợc có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực. - Đầu tƣ theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó.
Từ đây có khái niệm về đầu tƣ nhƣ sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội * Công nghệ cao Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD): Tổ chức này đã đƣa ra một khái niệm rất khái quát về CNC nhƣ sau: Công nghệ cao là các công nghệ có tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, các sản phẩm và quy trình công nghệ được đổi mới nhanh chóng, có 8 z tác động mạnh mẽ đối với sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, sản xuất và chiếm lĩnh thị trường trên quy mô thế giới. Tại Mỹ và Nhật Bản, CNC đƣợc hiểu là công nghệ tiên tiến, công nghệ hàng đầu với ba đặc điểm: - Là công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng, có đổi mới quan trọng; - Là công nghệ đòi hỏi nhân lực trình độ cao xuyên suốt quá trình từ nghiên cứu - thiết kế - chế tạo sản phẩm; - Là công nghệ đòi hỏi chi phí lớn cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, thương mại hoá, sản xuất và phân phối sản phẩm. Tại các nƣớc trong khu vực (Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan,.) những nội dung chủ yếu của CNC cũng đƣợc thống nhất nhƣ khái niệm của OECD. Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế và ý chí của các nhà lãnh đạo của mỗi nƣớc khác nhau nên những tiêu chí về công nghệ cao nhƣ tỷ lệ chi cho NC&PT, nhân lực nghiên cứu KH&CN đƣợc quy định ở những mức khác nhau.
Khái niệm CNC ở Việt Nam đã đƣợc quy định tại một số văn bản nhƣ: Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28/08/2003 về Quy chế khu CNC và Luật Chuyển giao công nghệ - 2007. Theo Luật Công nghệ cao thì Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.