Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi liệu cú sốc giá dầu có tác động đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam hay không, tác động đó thể hiện như thế nào và đây là tác động tuyến tính hay phi tuyến. Nghiên cứu lựa chọn sử dụng mẫu là dữ liệu theo tháng của các biến giá dầu thế giới, chỉ số sản lượng công nghiệp, lạm phát, lãi suất và cung tiền của Việt Nam, trong giai đoạn 2002 - 2015. Để xem xét mối quan hệ giữa các biến, tác giả sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR), hàm phản ứng đẩy tổng quát nhằm xem xét xu hướng tác động qua lại của các biến và phân tích phân rã phương sai để xem xét mức độ tác động của các biến số lên sự biến động của các biến số còn lại.
6 CHƢƠNG 2 CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ 2. Các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế Tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô đã trở thành một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong kinh tế học năng lượng từ giữa thập niên 70, sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng dầu thô năm 1973. Các nghiên cứu thời kỳ đầu, bao gồm Rasche và Tatom (1977), Darby (1982) và Bruno và Sachs (1982), đã tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá dầu và tăng trưởng kinh tế. Nhưng nổi bật trong chủ đề nghiên cứu này phải kể đến Hamilton (1983).
Sử dụng phương pháp VAR của Sims (1980) với số liệu của Mỹ thời kỳ 1948 – 1973, Hamilton (1983) kết luận rằng giá dầu và tăng trưởng GNP của Mỹ có mối quan hệ nghịch biến – có đến bảy trong tám cuộc suy thoái sau chiến tranh ở Mỹ xảy ra sau khi có sự gia tăng đáng kể giá dầu thô. Theo sau Hamilton, có rất nhiều bài nghiên cứu của các tác giả về tác động của giá dầu lên các biến số vĩ mô của Mỹ. Sử dụng dữ liệu của Hamilton, Gisser và Goodwin (1986) tìm ra mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và việc làm, đồng thời kiểm định liệu có sự khác nhau trong tác động của giá dầu trước và sau năm 1973 hay không. Tuy nhiên, họ không tìm được cơ sở củng cố cho giả thiết này và kết quả của họ cũng tương tự với Hamilton (1983).
Khi phân tích dữ liệu về tăng trưởng của Mỹ giai đoạn 1949 – 1980, Hooker (1996) cho thấy nếu giá dầu tăng 10% thì tăng trưởng GDP giảm khoảng 0. Cùng nghiên cứu dữ liệu trong thời kỳ này, Rotemberg và Woodford (1996) tìm hiểu tác động của việc tăng giá dầu đến sản lượng của nền kinh tế và lương thực tế và nhận thấy 1% giá dầu tăng sẽ làm giảm 0.25% sản lượng và 0.09% lương thực tế. Kết quả của hai ông được đưa ra dựa trên giả thiết thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Trong khi đó, Finn (2000) lại hướng nghiên cứu trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo và kết quả của ông cũng tương tự với Rotemberg và Woodford 7 (1996).
Từ đó, ông cho rằng sự biến động ngược chiều của giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô không phụ thuộc vào cấu trúc thị trường. Bằng cách sử dụng dữ liệu từ 12 bảng khảo sát trong National Longitudinal Survey of Young Men giai đoạn 1996 – 1981, Keane và Prasad (1996) nhận thấy giá dầu tăng 19% sẽ làm sản lượng thực tế giảm khoảng 3-4% trong dài hạn. Ông phân nhóm lực lượng lao động theo trình độ kỹ năng và tìm tác động của giá dầu lên từng nhóm. Theo đó, giá dầu tăng sẽ làm giảm tiền lương tuyệt đối của tất cả lao động, tuy nhiên lại dẫn đến sự gia tăng đáng kể tiền lương tương đối của những nhân công trình độ cao.
Điều này hàm ý chất lượng nhân sự có thể bù đắp cho cú sốc về năng lượng trong nhiều ngành công nghiệp. Lee và Ni (2002), ứng dụng mô hình VAR với số liệu của ngành công nghiệp Mỹ giai đoạn 1959 – 1997 để đánh giá tác động của cú sốc giá dầu lên các ngành công nghiệp khác nhau. Nghiên cứu cho thấy những cú sốc như vậy sẽ tác động lên cả hai mặt cung và cầu của các ngành công nghiệp, giá dầu tăng sẽ làm giảm sản lượng cung ở những ngành công nghiệp mà dầu chiếm tỷ trọng lớn trong nguyên liệu đầu vào, ví dụ như ngành lọc dầu hoặc hóa chất, và đồng thời làm giảm sản lượng cầu ở những ngành công nghiệp khác, ví dụ như công nghiệp sản xuất ô tô. Rogoff (2006) lập luận rằng, so với thập kỷ trước, việc sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, mức độ tiêu thụ dầu nhiều hơn, vận dụng chính sách tiền tệ tốt hơn, thâm nhập thị trường tài chính sâu hơn và thị trường lao động linh hoạt hơn đã làm suy yếu sức ảnh hưởng của cú sốc giá dầu.
Trong các nghiên cứu gần đây, Lippi và Nobili (2010) nghiên cứu những cú sốc cấu trúc (giá dầu, chỉ số sản lượng công nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô khác) trên số liệu của Mỹ. Sử dụng mô hình SVAR cho dữ liệu giai đoạn 1973 – 2007 ở Mỹ, hai ông cho thấy cú sốc về mặt cung của dầu làm giảm sản lượng của các ngành công nghiệp trong khi cú sốc về mặt cầu có tác động đồng biến lên GDP. Một vài nghiên cứu cũng được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô cho các nước ASEAN. Sử dụng dữ liệu giai đoạn quý 1 8 năm 1975 – quý 2 năm 2002, Cunado và Gracia (2005) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và hoạt động kinh tế cũng như chỉ số giá ở một số nước ASEAN (Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan và Philippines).
Nhóm tác giả không tìm thấy mối liên hệ đồng liên kết trong dài hạn. Trong ngắn hạn, giá dầu có mối quan hệ nhân quả Granger với tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Nhật, Hàn Quốc và Thái Lan. Kết quả thực nghiệm cũng dường như cho thấy tác động của cú sốc giá dầu là khác biệt giữa những nước nhập khẩu dầu mỏ và các nước xuất khẩu dầu mỏ. Jin (2008) báo cáo việc tăng giá dầu có tác động nghịch biến đến phát triển kinh tế tại Nhật Bản, Trung Quốc và có tác động đồng biến lên tăng trưởng tại Nga.
Du và cộng sự (2010) tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và hoạt động kinh tế vĩ mô Trung Quốc dựa trên số liệu từ giai đoạn tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2008, sử dụng mô hình tự hồi quy vectơ (VAR). Kết quả của nghiên cứu cho thấy giá dầu thế giới tác động đáng kể lên hoạt động kinh tế của Trung Quốc. Các nghiên cứu về độ mạnh của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mô Một trong những công trình đầu tiên là Burbidge và Harrison (1984). Bằng cách sử dụng phương pháp VAR, họ đã chứng minh được rằng tác động của giá dầu có ảnh hưởng ngược chiều lên các biến kinh tế vĩ mô ở các nước OECD.
Tuy nhiên, họ cho thấy cú sốc giá dầu 1973 – 1974 thì khác với giai đoạn 1979 – 1980. Trong giai đoạn 1973 – 1974 ảnh hưởng của giá dầu lên các biến kinh tế vĩ mô thực sự lớn. Những nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Blanchard và Gali (2007). Trong bài viết của mình, hai tác giả tranh luận rằng cú sốc giá dầu của thập niên 70 và thập niên 2000 thì khác nhau bởi vì so với những năm 70 thì trong giai đoạn 2000: Thiếu những cú sốc lớn khác xảy ra đồng thời với cú sốc giá dầu; Tỷ trọng của dầu trong sản xuất và tiêu dùng giảm; Mức độ cứng nhắc của tiền lương thực tế giảm; Chính sách tiền tệ được cải thiện hơn.
Theo bài nghiên cứu thì bởi vì bốn lý do trên mà tác động của những cú sốc giá dầu mỏ trong thập niên 2000 có phần nhỏ hơn so với thập niên 70. Bohi (1991) trình bày một báo cáo về vai trò của cú sốc giá dầu tới sự suy thoái trong thập niên 1970. Theo đó, ông cho rằng không có mối quan hệ giữa mức biến động năng lượng và các hoạt động sản xuất công nghiệp của bốn nước công nghiệp. Ông đề nghị rằng chính sách tiền tệ thắt chặt mới có thể là cách giải thích hợp lý.
Theo cùng hướng nghiên cứu, Hooker (1996) sử dụng kiểm định nhân quả Granger và cho kết quả rằng không có mối quan hệ tuyến tính hay quan hệ không đối xứng giữa giá dầu và các biến kinh tế vĩ mô. Ông xem giá dầu như một biến ngoại sinh, từ đó ông cho kết quả không có mối quan hệ nhân quả giữa giá dầu và nhiều chỉ số vĩ mô của Mỹ sau năm 1973 mặc dù trước năm 1973 có những kết quả khác. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác mà Hooker là một đồng tác giả (Carruth và cộng sự 1998) chỉ ra giá dầu thực có mối quan hệ nhân quả với thất nghiệp ở 10 Mỹ. Cùng phương pháp nghiên cứu với Hooker (1996), Segal (2007) cho rằng nguyên nhân quan trọng nhất khiến giá dầu ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là thông qua chính sách tiền tệ, khi giá dầu truyền dẫn vào lạm phát cơ bản, những nhà làm chính sách sẽ tăng lãi suất, làm giảm đi tăng trưởng kinh tế.
Sử dụng phương pháp Markov swiching, Raymond và Rich (1997) chứng minh rằng sự tăng ròng trong giá dầu mỏ góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ trong giai đoạn 1973 – 1975 và 1980, tuy nhiên đây không phải là yếu tố quyết định. Sử dụng phương pháp VAR với dữ liệu về việc làm ở Mỹ giai đoạn 1972 – 1988, Davis và Haltiwanger (2001) nhận thấy cú sốc giá dầu tăng có tác động mạnh gấp đôi đến tăng trưởng việc làm so với cú sốc chính sách tiền tệ. Cụ thể, cú sốc giá dầu năm 1973 đã làm giảm 8% tăng trưởng việc làm khu vực sản xuất trong hai năm. Hai ông còn nhận thấy tác động bất cân xứng của cú sốc giá dầu đến việc làm: mức độ giảm tăng trưởng việc làm khi giá dầu tăng lớn gấp 10 lần mức độ tăng việc làm khi giá dầu giảm.
Kết quả này cùng với những nghiên cứu của Mork (1989), Mory (1993), Lee và cộng sự (1995), Hamilton (1996) và Hooker (1996) đã cho thấy những bằng chứng vững chắc về tác động bất cân xứng của giá dầu (khi giá dầu tăng và khi giá dầu giảm) đến nền kinh tế Mỹ.