Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết về lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu và mối quan hệ giữa ba yếu tố. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 123doc 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ LÃI SUẤT, TỶ GIÁ, GIÁ CỔ PHIẾU VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BA YẾU TỐ.1 Tổng quan về Lãi suất 2.1 Khái niệm lãi suất: Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất.
Khi nghiên cứu về tư bản, Mác đã kết luận: “lãi suất cũng là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê và bị bọn tư bản - chủ ngân hàng chiếm đoạt. Vì thế, lãi suất là giá cả của một số tiền vay”. Lý thuyết chung về lãi suất và tiền tệ của Keynes lại cho rằng: “lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho sở thích chi tiêu tư bản. Lãi suất do đó còn được gọi là công trả cho sự chia li với của cải tiền tệ.” Theo Samuelson:” Lãi suất là giá cả của người đi vay phải trả cho người cho vay để sử dụng một khoản tiền trong một khoản thời gian xác định”.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Lãi là khoản tiền mà bên vay, huy động vốn hoặc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất, quy định ban hành kèm theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN ban hành ngày 29/09/2017 của Ngân hàng nhà nước. Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn. Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng.
Giá cả theo quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. 123doc 8 Một khái niệm khác: Lãi suất là tỷ lệ phần trăm nhất định sinh ra từ giao dịch cho vay giữa các bên.
Số tiền này được gọi là tiền lãi mà người vay tiền cần phải trả thêm cho người cho vay. Cụ thể, lãi suất sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm nhân với số tiền gốc theo một thời gian cụ thể được quy ước giữa 2 bên (thường được tính theo tháng hoặc theo năm). Từ các khái niệm trên có thể tổng quát rằng: Lãi suất là giá cả người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định.2 Đặc điểm lãi suất Tính cạnh tranh: trên thị trường tiền tệ các tổ chức tín dụng hoạt động cạnh tranh gay gắt, một trong những yếu tố giúp các tổ chức tín dụng cạnh tranh với nhau đó là chính sách lãi suất. Lãi suất tiền gửi và tín dụng của mỗi ngân hàng sẽ có sự chênh lệch với nhau nhằm thu hút khách hàng, tạo ra tính cạnh tranh mà vẫn đảm bảo lợi nhuận hoạt động kinh doanh.
Tính linh hoạt: lãi suất sẽ thường xuyên thay đổi theo từng thời kỳ, từng sự biến động của cung cầu vốn, lạm phát, chính sách của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất điều hành nhằm phù hợp với nhu cầu của thị trường, ổn định nền kinh tế, hạn chế biến động đối với tác động nhân bên ngoài.3 Vai trò lãi suất: Lãi suất là công cụ của chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng lãi suất như là một công cụ để điều hành chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đạt mục tiêu đề ra. Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và trì trệ, Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất nhằm tăng cung tiền và kích cầu để thúc đẩy kinh tế phát triển vượt qua tình trạng suy thoái. Lãi suất là công cụ khuyến khích người dân gửi tiền tiết kiệm để hưởng phần lãi suất, làm nguồn huy động vốn tăng, nhằm đáp ứng nhu cầu vay và làm thị trường tài chính phát triển.
Khi nhu cầu vốn vay tăng sẽ tác động làm lãi xuất có xu hướng tăng, đây là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển và ngược lại. Tuy nhiên khi lãi suất tăng quá mức thì sẽ làm cho khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong vấn đề trả lãi vay, để tránh tình trạng nợ xấu bất lợi cho ngân 123doc 9 hàng thì NHNN đưa ra các mức ấn định lãi suất trần, sàn để điều tiết ổn định lãi suất. Vì vậy lãi suất đóng vai trò rất quan trọng trong việc nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ, điều tiết nền kinh tế. Lãi suất là chi phí phải trả của doanh nghiệp vay.
Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để mở rộng kinh doanh, trước khi vay doanh nghiệp đó cần so sánh chi phí lãi vay phải trả cho ngân hàng với lợi nhuận thu được khi thực hiện mở rộng, nhằm xem xét việc vay vốn thực hiện mở rộng kinh doanh có sinh lời hay không. Lãi suất là công cụ giúp hạn chế lạm phát xảy ra. Lạm phát xảy ra từ sự cung ứng tiền quá mức, nên Nhà nước sẽ đưa ra chính sách lãi suất cao để thu hút huy động vốn, làm lượng tiền lưu thông giảm và kiềm chế được lạm phát. Ngoài ra, lãi suất nội tệ và ngoại tệ còn ảnh hưởng đến tỷ giá, các hoạt động xuất nhập khẩu, nguồn vốn đầu tư nước ngoài.4 Chức năng của lãi suất Chức năng phân phối: phân phối lãi suất giúp cho nền kinh tế phân bổ nguồn tiền từ các tài khoản tiết kiệm của người có vốn nhàn rỗi đến những khoản vay cần trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của nhà đầu tư trong nền kinh tế.
Khi quyết định vay vốn đầu tư, nhà đầu tư phải so sánh lãi suất phải trả khoản vay với tỷ suất sinh lợi kiếm được từ dự án đầu tư để có lợi nhuận khi thực hiện. Do đó lãi suất phân phối lại một phần thu nhập hay lợi nhuận của khoản vay phải trả cho ngân hàng hoặc người cho vay. Chức năng kiểm soát: lãi suất có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ của Chính phủ, là công cụ để kiểm soát lượng cung tiền. Khi lượng cung tiền trên thị thấp cần mở rộng thì Chính phủ sẽ sử dụng việc giảm lãi suất để khuyến khích doanh nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, hạn chế gửi tiền, làm lượng tiền trong lưu thông tăng và ngược lại cần giảm cung tiền thì sẽ áp dụng tăng lãi suất.5 Phân loại lãi suất: 2.
Lãi suất trên thị trường tiền tệ có thể chia thành hai nhóm như sau: Nhóm lãi suất điều hành do NHNN công bố được sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ, bao gồm: lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên 123doc 10 ngân hàng, lãi suất cơ bản. Các lãi suất này được NHNN xác định tuỳ thuộc vào mục tiêu CSTT và diễn biến nền kinh tế. Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho nhau khi vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất mà NHNN cho các ngân hàng trung gian vay.
Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay NHNN của các ngân hàng trung gian. Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất mà ở đó NHNN áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại. Ở Việt Nam, ngân hàng nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn. Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn.
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do NHNN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của NHNN, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn. Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất thực hiện trên đối tượng là các giấy tờ có giá.
Các ngân hàng sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu) các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn. Nhóm lãi suất kinh doanh chịu tác động của quan hệ cung - cầu vốn: (i) Lãi suất tín phiếu kho bạc ; (ii) Lãi suất các công cụ huy động vốn của các trung gian tài chính như tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, hối phiếu được ngân hàng thương mại (NHTM) chấp nhận; (iii) Lãi suất vay vốn giữa các NHTM trên thị trường tiền tệ 123doc 11 liên ngân hàng; (iv) Lãi suất các khoản tín dụng của các NHTM cho các doanh nghiệp vay là lãi suất cao nhất trên thị trường tiền tệ, lãi suất của các NHTM lớn áp dụng cho vay các doanh nghiệp có uy tín là mức lãi suất thấp nhất trên thị trường này và thường gọi là lãi suất cho vay cơ bản. Lãi suất huy động vốn là lãi suất mà ngân hàng chi trả cho các khoản tiền gửi của tổ chức, hoặc cá nhân vào ngân hàng. Tùy thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, có kỳ hạn hay tiết kiệm.), thời hạn gửi và quy mô tiền gửi mà có các mức lãi suất khác nhau.