Chương 1: Lý thuyết về thị trường chứng khoán và mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô với thị trường chứng khoán Chương 2: Thực trạng thị trường vả tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô tới thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 3: Mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tổ kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 4: Kết luận và những gợi ý chính sách. - CHUONG1 | „ __ LÝ THUYÉT THỊ TRƯỜNG CHUNG KHOAN VA MOI QUAN HE GIUA CAC NHAN TO KINH TE VI MO VOI TH] TRUONG CHUNG KHOAN 1.1 Thị trường chứng khoán: 1.1 Khái niệm: TTCK đã hình thành từ nửa cuối thế ký 15 dưới các hình thức sơ khai, trái qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm từ thành phó Bruges — Vương quốc Bỉ tới London — Anh, rồi Pháp, Đức, Ý, Mỹ. Hiện nay, đánh giá được tầm quan trọng của TTCK, nhiều nước đã tập trung đầu tư, phát triển và dần quen thuộc với người dân, đặc biệt là giới đầu tư tài chính. Tuy vậy, hiểu thế nào là TTCK thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng TTCK va thị trường vốn là một, có chăng là cách gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản (Capital Market).
Nếu xét về mặt bản chất, thì thị trường vốn biểu hiện tính chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán. TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do đó, các thị trường này không thê phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất vả cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoàải của thị trường tư bản. Quan điểm thứ hai của đại đa số các nhà kinh tế thì cho rằng: “TTCK được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một”.
Như vậy, theo quan điểm này, TTCK và thị trường vốn là khác nhau, trong đó TTCK chi giao dich, mua bán các công cụ tài chính trung và đài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK. Quan điểm thứ ba lại dựa trên những gì quan sát được tại đa số các Sở giao dịch chứng khoán (Stock Exchange) thì cho rằng “TTCK là thị trường cô phiếu”, nói cách khác đó là nơi mua bán các phiếu cỗ phần được các công ty phát hành ra dé huy động vốn. Theo quan điểm này, TTCK được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu.
Còn theo Luật chứng khoán năm 2006 của Việt Nam: “7hj trong giao dich chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đôi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. Như vậy, về mặt bản chất TTCK là thị trường thê hiện mối quan hệ cung - cầu vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chỉ phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư và là hình thức phát triển bậc cao nhất của nền sản xuất, lưu thông hàng hóa.2 Chỉ số giá chứng khoán và VN-Index. Chỉ số giá chứng khoán rất quan trọng đối với những người tham gia TTCK, đặc biệt là thị trường cô phiếu đù với tư cách là nhà đầu tư, chuyên gia tư vẫn, môi giới hay các nhà hoạch định chính sách. Nó được các sở giao dịch, các công ty, các tô chức cung cấp dịch vụ trên thị trường tính toán và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Chỉ số giá chứng khoán tăng cho thấy toàn bộ hay đa số các cỗ phiếu tăng. Và ngược lại, chỉ số giá giảm chứng tỏ các cô phiếu đang giảm giá. Sự biến động của chỉ số giá chứng khoán có mối quan hệ tương đối chặt chẽ tới tình hình kinh tế và chính sách kinh tế vĩ mô. Trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thuận lợi, chỉ số giá cỗ phiếu thường tăng, một phân là do nhà đầu tư tin tưởng vào triển vọng phát triển của các doanh nghiệp nên có nhu cầu mua cỗ phiếu nhiều hơn khiến cho giá cỗ phiêu tăng.
Nhưng nếu các nhà phân tích và giới đầu tư có nhận định bi quan về tình hình kinh tế thì họ sẽ không máy tin tưởng vào kết quả kinh doanh tốt đẹp của các doanh nghiệp trong tương lai, khi ấy cỗ phiếu sẽ không còn hấp dẫn đối với nhà đầu tư, giá của chúng trên thị trường sẽ giảm dẫn đến chỉ số giá cổ phiếu giảm. Ở Việt Nam, chỉ số giá chứng khoán VN-Index là chỉ số phán ánh mức giá trên TTCK trong một ngày cụ thê so với mức giá tại thời điểm gốc. Chỉ số này được tính theo phương pháp trọng số giá thị trường: 3,0+r; VN ~ Index=-=————x100 5.0xr, i=l Trong do: P': là giá tại thời điểm tính toán của cô phiếu ¡ @j: là khối lượng cỗ phiếu ¡ đang lưu hảnh tại thời điểm tính toán bỉ: là giá cỗ phiếu ¡ tại thời kỳ gốc Ớj: là khối lượng cỗ phiếu ¡ tại thời kỳ gốc 1. Các nhân tố kinh tế vĩ mô vả cơ chế tác động tới TTCK Về bản chất TTCK là một trong những hoạt động của nền kinh tế, do đó về mặt lý thuyết sẽ phải chịu tác động hoặc ít hoặc nhiều, hoặc dưới hình thức nảy hay hình thức khác của nội tại nền kinh tế và các chính sách kinh tế của mỗi quốc gia - thé hiện qua các chỉ số nên kinh tế, các thước đo hoạt động của nền kinh tế nói chung, ta gọi là các biến số kinh tế vĩ mô.
Sau đây, ta xem xét một số yếu tổ kinh tế vĩ mô điển hình vả cơ chế tác động của chúng tới TTCK.1 Cung tiền và giá chứng khoán Lý thuyết số lượng tiền tệ nói rằng mức cung ứng tiền tệ hiện tại quyết định muc gia hién tai (N.Gregory Mankiw, Macroeconomics, Second edition, 1997). Trén thực tế, mức giá không chỉ phụ thuộc vào mức cung tiền hiện tại mà còn phụ thuộc vào cả mức cung tiền dự kiến trong tương lai. Hãy giả định rằng ngân hàng trung ương phát đi tín hiệu sẽ tăng cung tiền trong tương lai (không phải thay đổi ngay lập tức mức cung tiền hiện tại). Khi đó, người dân sẽ đưa ra dự đoán mức lạm phát tương ứng của nền kinh tế trong tương lai, thông qua hiệu ứng Fisher sẽ làm tăng lãi suất hiện tại.
Điều này ngay lập tức làm giảm số dư tiền thực tế. Do lượng tiền chưa thay đổi, sự suy giảm của nhu cầu về số dư thực tế khiến giá cao hơn. Có nghĩa là mức cung tiền tệ dự kiến cao hơn trong tương lai cũng làm tăng giá cả hiện tại. Đối với TTCK, do hàng hóa trên thị trường này là cỗ phiếu của các công ty niêm yết, nó là đại diện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Do đó, giá cổ phiếu cảng nhạy cảm hơn với những biến động trong mức cung tiền. Ta giá định rằng, để kích thích tăng trưởng kinh tế, Chính phủ chủ trương mở rộng cung tiền. Khi đó, lãi suất sẽ giảm đi và tỉ lệ tăng tưởng tín dụng cao thêm. Về mặt trực quan, ta có thê thấy chi phí xã hội bình quân giảm xuống, kích thích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư và mở ra cơ hội tìm kiếm lợi nhuận tốt hơn; về phía nhà đầu tư sẽ được sử dụng vốn nhiều hơn với chi phí rẻ hơn (nếu nhà đầu tư dùng đòn bẩy) hoặc chi phí cơ hội sử dụng vốn cho đầu tư chứng khoán sẽ giảm xuống.
Điều này kích thích dòng tiền chảy vào TTCK làm tăng giá chứng khoán. Và ngược lại, khi thắt chặt cung tiền, cơ hội tìm kiếm lợi nhuận trên TTCK sẽ giảm xuống và dòng tiền sẽ giảm theo, hệ quả là giá chứng khoán cũng sẽ rớt theo. Mối tương quan thuận chiều nảy có vẻ phủ hợp với kết quả nghiên cứu của Mukherjee va Naka (1995), Maysami và Koh (2000) và Kwon & Shin (1999), Trên thực tế, cung tiền dường như tác động tới giá cô phiếu thông qua ít nhất ba cơ chế: Thứ nhất, những thay đổi trong cung tiền có thể tạo ra sự gia tăng đột ngột của tỉ lệ lạm phát hiện tại và cả trong tương lai nên điều này sẽ tác động nghịch chiều tới giá cô phiếu; Thứ hai, những thay đổi trong cung tiên có thê ảnh hưởng thuận chiều tới giá cỗ phiếu thông qua những tác động của nó tới các hoạt động kinh tế; Cuối cùng, lý thuyết danh mục đầu tư cho rằng tôn tại một mối quan hệ dương do có mối liên hệ giữa một sự gia tăng trong cung tiền với danh mục đầu tư thay đổi từ việc tiền không sinh lãi tới tài sản tài chính bao gồm giá trị các cô phần thường. Mac du vay, trên thực tế không phải bất cứ ở đâu, khi nảo, cung tiền cũng tác động đến giá cô phiếu, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa cung tiền va giá cổ phiếu tại Mỹ Andreas Humpe và Peter Maemillan (2007) nhận thấy rằng trong dài hạn giữa chúng có sự tương quan không đáng kể (mặc dù là tương quan thuận); còn tại thị trường Nhật hai ông lại nhận ra giữa cung tiền và giá cô phiếu tồn tại một mối tương quan nghịch.
Cũng như vậy, Suliaman D.Mohammad và cộng sự (2009) có bằng chứng trong nghiên cứu tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi — Pakistan, ông chỉ ra rằng cung tiền và giá cô phiếu tại đây tồn tại một mối tương quan nghịch. Điều này có thê được giải thích rằng việc tăng cung tiền sẽ làm tăng lạm phát không chắc chắn và sẽ làm giảm giá cô phiếu (Mohamed Asmy Bin Mohd Thas Thaker và cộng sự, 2009).2 Ảnh hưởng của lạm phái tói giá chứng khoán Lam phat 1a biéu thị cho sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nên về mặt vĩ mô nó có thé dẫn đến việc phân phối lại thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên giữa cá nhân, tô chức và các giai tầng trong xã hội. Bên cạnh đó, nó cũng gây ra những biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nên kinh tế, đặc biệt khi chỉ số lạm phát cao có nghĩa là có sự tăng lên mạnh mẽ của giá cả tương đối. Vì vậy, sẽ có những ngành, lĩnh vực có lợi và có những lĩnh vực gặp khó khăn làm địch chuyên dòng vốn và cơ cầu của nền kinh tế cũng thay đổi.
Như vậy, lạm phát cao nghĩa là giá cả hàng hóa tăng lên. Vậy giá cô phiếu liệu có tăng?