Chương 1 đã giới thiệu những lý do, cơ sở giúp hình thành nên ý tưởng chọn thực hiện đề tài “Hoạt động môi giới tại công cy cổ phần chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh” làm bài khóa luận. Với những thông tin kèm theo, hy vọng người đọc nắm được những nội dung sắp được trình bày ở những chương sau, 6 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Khi TTCK được thành lập và phát triển ở giai đoạn mạnh nhất, không ít người đã trở nên giàu có nhanh chóng từ việc mua bán chứng khoán. Song, việc một người được xem là nhà đầu tư thành công, ngoài các yếu tố chủ quan cá nhân thì không thể thiếu những yếu tố khác.
Đó chính là lựa chọn cho mình một tổ chức trung gian tốt hay nói cách khác là lựa chọn cho mình những nhà môi giới tài ba, chuyên nghiệp, giúp nhà đầu tư sáng suốt vượt qua các ngưỡng tâm lý khi đối diện với các biến động thị trường. Hoạt động giao dịch trên sàn chủ yếu được giao cho bộ phận môi giới của các CTCK nhằm hệ thống quá, tập trung các lệnh đảm bảo cho quá trình giao dịch được diễn ra lành mạnh và hợp pháp. Vậy như một sợi dây có những đoạn nhịp dài, để phát triển TTCK thì phải phát triển chất lượng các CTCK mà để các CTCK hoạt động sinh lời và trong đó hoạt động môi giới đóng vai trò quan trọng. Vì thê trong chương này, người viết sẽ cung cấp cho người đọc những vấn đề mang tính cơ bản về Công ty chứng khoán, nguyên tắc hoạt động của CTCK và phân loại CTCK.
Sau đó, chương sẽ giới thiệu về hoạt động môi giới tại CTCK bao gồm các phạm phù: định nghĩa, phân loại, vai trò và chức năng. Đồng thời, người viết cũng đề cập đến quy trình nghiệp vụ Môi giới chứng khoán (MGCK) để người đọc có thể hiểu rõ hơn về phương cách giao dịch của hoạt động này tại CTCK.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2.1 Định nghĩa Nền kinh tế Việt Nam bao gồm các hoạt động mua bán, giao dịch giữa rất nhiều đối tượng khác nhau và ai cũng biết rằng, một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn đang nằm trong dân. Số vốn này được xoay vòng dưới hình thức cho vay. Vốn được chuyển từ người cho vay đến người đi vay dưới nhiều hình thức.
Trên thị trường truyền thống, khi có nhu cầu cho hoạt động đầu tư hay mở rộng quy mô, doanh nghiệp thường sẽ thiếu vốn và lúc này họ sẽ tìm đến Ngân hàng. Trước khi hình thành TTCK tại Việt Nam, Ngân hàng đã thể hiện tốt khả năng của mình khi là kênh huy động vốn chủ yếu thông qua hình thức tín dụng. Ngân hàng với vị thế là trung gian đã góp phần tạo lập và bình ổn giá cả trên hai thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Nhưng bắt đầu kể từ sau giữa năm 2000, các công ty chứng khoán đã hỗ trợ cho việc huy động vốn cũng với vai trò là cầu nối giữa người đi vay và người cho vay thông qua việc phát hành chứng khoán.
Định nghĩa về công ty chứng khoán chúng ta có thể đọc được ở rất nhiều giáo trình liên quan đến thị trường tài chính. Trích dẫn theo như lời của PGS. Nguyễn 7 Minh Kiều có ghi “Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán,, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập”. Ngay trong định nghĩa cũng đã cho thấy nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của CTCK là nguyên tắc trung gian.
Theo điều 59 của bộ Luật chứng khoán được ban hành năm 2006 về Thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, trong đó có đề cập đến Công ty chứng khoán, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định tại điều 22 của Luật doanh nghiệp. CTCK là thành viên của Sở giao dịch Chứng khoán (SGDCK). CTCK muốn tham gia hoạt động trên TTCK cần phải thỏa một số điều kiện cụ thể của Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) bao gồm giấy phép kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu về vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK. Tùy theo mỗi nước mà quy định này sẽ khác nhau.
Chẳng hạn ở Hàn Quốc, UBCK nơi đây quy định, nếu muốn thành lập một CTCK hoạt động mội nghiệp vụ tối thiểu phải có vốn pháp định là 10 tỷ won. Còn ở Việt Nam, một CTCK chuyên kinh doanh nghiệp vụ MGCK cần có mức vốn tối thiểu là 25 tỷ Việt Nam đồng. Ngoài hoạt động chính là mua bán chứng khoán bên cạnh đó các CTCK còn có các dịch vụ kèm theo như là phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư và môi giới chứng khoán để hưởng hoa hồng, đây cũng là đề tài chính xuyên suốt trong bài khóa luận này.2 Nguyên tắc hoạt động Như đã đề cập ở trên, các CTCK muốn hoạt động hợp pháp được cấp phép của UBCKNN về kinh doanh chứng khoán và các nghiệp vụ đi kèm. Tuy nhiên để đảm bảo cho tính hiệu quả và lành mạnh của thị trường, các CTCK phải tuân theo các nguyên tắc sau, được ban hành trong Luật chứng khoán năm 2006 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/1/2007.
Trích: Điều 73 Quy định về hạn chế đối với CTCK 1. Không được đưa ra nhận định hoặc bảo đảm với khách hàng về mức thu nhập hoặc lợi nhuận đạt được trên khoản đầu tư của mình hoặc bảo đảm khách hàng không bị thua lỗ, trừ trường hợp đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố định. Không được tiết lộ thông tin về khách hàng, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Không được thực hiện những hành vi làm cho khách hàng và nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán.
Không được cho khách hàng vay tiền để mua chứng khoán, trừ trường hợp Bộ Tài chính có quy định khác. 8 Ngoài ra, tác giả Đinh Xuân Hạ trong cuốn sách “Quản lý và các nghiệp vụ giao dịch trên thị trường chứng khoán” năm 1999 cũng đề cập đến một số nguyên tắc khácđôi với CTCK, trích lược dẫn như sau: - Giao dịch trung thực và công bằng, vì lợi ích của khách hàng. - Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm. - Phải có hợp đồng với khách hàng khi thực hiện các dịch vụ cho họ - Đảm bảo đội ngũ nhân viên kinh doanh chứng khoán (CK) có kỹ năng, có trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của TTCK.
- Tách biệt tài sản của khách hàng với tài khoản của mình nhằm bảo vệ tài sản của khách hàng. - Không tham gia các hoạt động kinh doanh ngoài phạm vi giấy phép được cấp phép.3 Phân loại Có nhiều tiêu chuẩn để phân loại CTCK và điều đó phụ thuộc nhiều vào tình hình tăng trưởng cũng như quy mô phát triển của TTCK của từng quốc gia hay nhóm nước. Phân loại theo mô hình hoạt động Mô hình kinh doanh của CTCK khá đặc biệt, do vai trò chủ đạo là trung gian tài chính nên mô hình hoạt động cũng tùy thuộc vào tình hình kinh tế tài chính của mỗi quốc gia. Các cán bộ quản lý chức năng của Nhà nước cân nhắc trong việc điều chỉnh, thay đổi hay bổ sung cho phù hợp với tốc độ phát triển chung.
Tuy nhiên, chúng ta có thể phân loại hai mô hình cơ bản hiện nay đó là: mô hình CTCK Ngân hàng hay với tên gọi khác là Mô hình Ngân hàng đa năng và Công ty chuyên doanh chứng khoán. Mô hình Ngân hàng đa năng nghĩa là một Ngân hàng có quyền tham gia vào các hoạt động kinh doanh bình thường thêm vào chứng khoán. Điều này tận dụng được lợi thế về vốn của Ngân hàng nhưng lại lộ rõ mặt trái mà điều này là nguyên nhân chính kìm hãm sự phát triển của TTCK. Do Ngân hàng có xu hướng ưu tiên tín dụng ngắn hạn hơn là Bảo lãnh phát hành chứng khoán cũng như do không có sự chuyên doanh riêng biệt nên khả năng quản trị và quản lý rủi ro còn nhiều yếu kém, dễ gây nên sụp đổ hệ thống Ngân hàng.
Mô hình Công ty chuyên doanh chứng khoán: hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Mô hình này đang phổ biến hiện nay ở nhiều nước và trong đó có Việt Nam. Song, do sự lớn mạnh dần của các tập đoàn tài chính có thể kinh doanh đa dạng trên cái phương diện nên theo Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quy định các NHTM muốn kinh doanh chứng khoán phải tách một phần vốn tự có của mình thành lập một công ty chuyên doanh chứng khoán 9 trực thuộc và hạch toán độc lập với Ngân hàng. Phân loại theo mô hình tổ chức Dựa vào điều 4 của Luật Doanh nghiệp, thuật ngữ về các hình thức tổ chức của doanh nghiệp, kết hợp với Luật chứng khoán 2006, CTCK có các loại sau: Công ty hợp danh: bao gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Công ty cổ phần: là pháp nhân độc lập với chủ sở hữu công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn: là công ty có chủ là một pháp nhân.
Có quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ của mình cho một tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định của pháp luật Phân loại theo cơ cấu cổ đông Mặc dù hình thức tổ chức của một CTCK đa dạng, phù hợp với nhiều đối tượng muốn thành lập nhưng với xu hướng toàn thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, cổ phần hóa đang là mục tiêu hướng đến của kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia. Các CTCK uy tín hiện này đa phần là các công ty cổ phần với sự sở hữu của các cổ đông khác nhau. Dựa vào điều này, có thể chia CTCK thành 5 dạng phổ biến: Thứ nhất là cổ đông lớn đồng thời là lãnh đạo CTCK có chuyên môn về lĩnh vực tài chính, chứng khoán. Thứ hai, CTCK là công ty con hoặc có cổ phần chi phối của các tổ chức bảo hiểm, ngân hàng.
Thứ ba là khối CTCK có yếu tố nước ngoài như Kimeng, Mê Kông, Nhật Bản, VinaSecurities… Thứ tư là khối CTCK có cổ đông lớn đứng ra và tập hợp các NĐT nhỏ lẻ thành lập công ty. Khối này đang chiếm số lượng lớn nhất.