Tổng quan luận án

Vấn đề tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) đến các biến số kinh tế vĩ mô thông qua các kênh truyền dẫn là một chủ đề trọng tâm trong kinh tế học tiền tệ và thực tiễn điều hành của các ngân hàng trung ương. Theo lý thuyết tài chính hiện đại, lượng tiền cung ứng và lãi suất điều hành tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô thông qua các kênh truyền dẫn chủ yếu: kênh lãi suất, kênh giá cả tài sản, kênh tỷ giá hối đoái và kênh tín dụng ngân hàng (Bernanke & Blinder, 1988). Trong đó, kênh tín dụng đóng vai trò bổ sung và khuếch đại tác động truyền dẫn của CSTT đến tổng cầu và sản lượng thông qua nguồn cung tín dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) (Olivero, Li, & Jeon, 2011b).

Tại Việt Nam, các giai đoạn thực thi CSTT thắt chặt (tiêu biểu như năm 2008, năm 2011 và nửa đầu năm 2012) nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đã bộc lộ những điểm nghẽn trong hệ thống NHTM và khu vực doanh nghiệp. Tình trạng thắt chặt tín dụng kéo dài dẫn đến hiện tượng tắc nghẽn dòng vốn, tồn kho hàng hóa gia tăng, thanh khoản căng thẳng, nợ xấu phát sinh và biên độ sinh lời sụt giảm (Chu Khánh Lân, 2012). Cùng với tiến trình cổ phần hóa, tái cơ cấu thông qua làn sóng sáp nhập - mua lại, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài và các cam kết hội nhập quốc tế (gia nhập WTO năm 2006, tham gia CPTPP và Cộng đồng Kinh tế ASEAN - AEC), cấu trúc thị trường và năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam đã trải qua những biến chuyển căn bản. Dù vậy, mối quan hệ tương tác giữa năng lực cạnh tranh ngân hàng và mức độ hiệu quả của việc truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật chưa được kiểm chứng đầy đủ tại Việt Nam.

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Thị Hà An, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (Mã số: 9.01) tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (năm 2020), với đề tài "Tác động truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Diệu Anh và TS Lê Thị Hiệp Thương nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu trên.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Nội dung trọng yếu của luận án là xem xét tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của các NHTM tại Việt Nam, từ đó đề xuất các gợi ý chính sách điều hành CSTT qua kênh tín dụng trong điều kiện cạnh tranh đối với Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Đồng thời, nghiên cứu chú trọng so sánh hai phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh (tiếp cận truyền thống qua chỉ số Lerner và tiếp cận mới qua chỉ số Boone) để xác định phương pháp phù hợp trong việc giải thích tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống NHTM.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng của NHTM tại Việt Nam.
    2. Đánh giá tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của các NHTM tại Việt Nam.
    3. Đưa ra các gợi ý điều hành CSTT qua kênh tín dụng trong điều kiện cạnh tranh đối với NHNN Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Có tồn tại truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam hay không? Nếu có, tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam như thế nào?
  2. Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh lên tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng của các NHTM tại Việt Nam như thế nào?
  3. Trong điều kiện cạnh tranh, NHNN điều hành CSTT qua kênh tín dụng như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động truyền dẫn của CSTT qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh tại các NHTM Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các NHTM tại Việt Nam, cụ thể là mẫu nghiên cứu gồm 30 NHTM cổ phần.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2017. Dữ liệu chuỗi thời gian vĩ mô được thu thập theo tần suất tháng từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2017; dữ liệu vi mô cấp ngân hàng được thu thập theo năm trong cùng giai đoạn 10 năm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước xoay quanh hai nội dung chính:

Hướng nghiên cứu về sự tồn tại của kênh truyền dẫn tín dụng

Tổng quan tài liệu quốc tế chỉ ra hai luồng kết quả trái ngược:

  • Luồng nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của kênh tín dụng: Sun, Ford, & Dickinson (2010) sử dụng mô hình VAR/VECM với dữ liệu tháng (1996–2006) tại Trung Quốc, xác nhận cú sốc CSTT ảnh hưởng đến cho vay và tiền gửi của hệ thống ngân hàng; Lindner và cộng sự (2019) chứng minh CSTT của Hoa Kỳ tác động lan tỏa đến hoạt động cho vay của các ngân hàng Đức và Áo (giai đoạn 2005Q1–2015Q4); Mahathanaseth & Tauer (2019) sử dụng mô hình VECM trên dữ liệu bảng 10 NHTM Thái Lan (2007–2016), xác nhận tăng lãi suất chính sách làm tăng chi phí đầu vào và giảm cung tín dụng; Roman Matousek & Helen Solomon (2018) dùng phương pháp GMM hai bước trên 23 ngân hàng Nigeria (2002–2008), khẳng định tái cơ cấu ngân hàng củng cố kênh cho vay; Ippolito và cộng sự (2018) phân tích dữ liệu 1050 công ty Mỹ (2004–2008) cho thấy tín dụng ngân hàng giữ vai trò trọng yếu khi áp dụng lãi suất thả nổi; Orzechowski (2016) ước lượng GLS trên 47 NHTM Mỹ, chỉ ra CSTT có tác động tiêu cực rõ rệt hơn lên cho vay bất động sản ở nhóm ngân hàng có lợi nhuận cao; Afrin (2017) dùng SVAR tại Bangladesh (2003–2014) chỉ ra kênh tín dụng chi phối mạnh hơn kênh tỷ giá; Salachas, Laopodis, & Kouretas (2015) dùng GMM trên 480 NHTM tại Mỹ, Anh, Nhật và khu vực Euro (2001–2013) nhận thấy kênh tín dụng hoạt động hiệu quả trước khủng hoảng nhưng bị biến dạng ở giai đoạn hậu khủng hoảng; Sanfilippo-Azofra, Torre-Olmo, & Cantero-Saiz (2019) nghiên cứu 262 tổ chức tài chính tại 18 nước đang phát triển (2004–2014); Aleem (2010) sử dụng VAR tại Ấn Độ (1996–2007) nhấn mạnh kênh tín dụng truyền dẫn cú sốc tiền tệ trực tiếp vào khu vực sản xuất.
  • Luồng nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về kênh tín dụng: Favero & Bagliano (1998) nghiên cứu dữ liệu BankScope tại Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha (1992–1996) không tìm thấy phản ứng đáng kể của dư nợ cho vay trước chính sách thắt chặt tiền tệ; Lungu (2008) và Simpasa, Nandwa, & Nabassaga (2014) khảo sát các nền kinh tế thuộc Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC) chỉ ra kênh tín dụng không đóng vai trò then chốt do thị trường tài chính kém phát triển và sự hiện diện của tín dụng chỉ định thuộc lĩnh vực ưu tiên.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Chu Khánh Lân (2012) sử dụng mô hình VAR (quý 2/2000–quý 4/2011) kết luận kênh tín dụng có tồn tại nhưng mức độ phụ thuộc vào sức khỏe hệ thống NHTM; Nguyễn Thị Thùy Vinh (2015) dùng mô hình VAR (1995–2009) khẳng định thay đổi cung tiền tác động mạnh tới sản lượng thông qua kênh tín dụng hơn là kênh lãi suất; Nguyễn Thị Kiều Nga và cộng sự (2016) dùng VAR và VECM trên 18 NHTM xác nhận mối quan hệ dài hạn giữa chỉ số CSTT và cung cho vay; Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2017) dùng SVAR (quý 4/2000–quý 4/2015) kết luận kênh lãi suất giải thích 3,68% biến động sản lượng thực, kênh giá tài sản chiếm 3,17%, kênh tín dụng chiếm 2,51% và kênh tỷ giá chiếm 0,39%.

Hướng nghiên cứu về tác động của năng lực cạnh tranh lên kênh tín dụng

  • Cạnh tranh làm suy yếu truyền dẫn CSTT: Aftalion & White (1978), Van Hoose (1983) nhận định ngân hàng có sức cạnh tranh lớn làm công cụ CSTT giảm hiệu quả điều tiết; Olivero, Li, & Jeon (2011b) phân tích dữ liệu bảng ngân hàng tại 10 nước châu Á và 10 nước Mỹ Latinh (1996–2006) bằng chỉ số H (Panzar-Rosse), chứng minh cạnh tranh gia tăng làm suy yếu việc truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng; Leroy (2014) khảo sát các nước Eurozone (1999–2011) bằng chỉ số Lerner, cho thấy ngân hàng có sức cạnh tranh cao tạo ra "vùng đệm" lợi nhuận giúp duy trì tín dụng ổn định trước cú sốc lãi suất; Fungacova, Pessarossi, & Weill (2012) nghiên cứu 12 nước Eurozone (2002–2010) nhận thấy ngân hàng có năng lực cạnh tranh thấp phản ứng nhạy cảm hơn với CSTT trong thời kỳ trước khủng hoảng; Adams & Amel (2005) khảo sát các ngân hàng nhỏ tại Hoa Kỳ (1996–2004); Yang & Shao (2016) dùng GMM trên dữ liệu ngân hàng Trung Quốc (2003–2014) khẳng định ngân hàng có sức cạnh tranh lớn có khả năng phòng hộ chống thắt chặt tiền tệ; Trần Thị Kim Oanh (2017) dùng DGMM trên 31 NHTM Việt Nam (2000–2016) bằng chỉ số Lerner cho thấy ngân hàng có năng lực cạnh tranh thấp hơn thì cung tín dụng nhạy cảm hơn trước cú sốc CSTT.
  • Cạnh tranh làm tăng cường truyền dẫn CSTT: Baglioni (2007) cho rằng tác động truyền dẫn phụ thuộc vào cấu trúc thị trường; Van Leuvensteijn và cộng sự (2013) nghiên cứu 12 nước Eurozone (2002–2010) kết luận ngân hàng có năng lực cạnh tranh lớn thúc đẩy truyền dẫn CSTT do độ nhạy của lãi suất tín dụng gia tăng; Amidu & Wolfe (2013) nghiên cứu 978 ngân hàng từ 55 quốc gia (2000–2007) chỉ ra cạnh tranh gia tăng củng cố ảnh hưởng của cú sốc CSTT do các ngân hàng lớn nắm giữ độc quyền thông tin khách hàng, làm tăng chi phí chuyển đổi.
  • Nghiên cứu đa chiều về thước đo cạnh tranh: Khan, Ahmad, & Gee (2016) chỉ ra rằng khi đo năng lực cạnh tranh bằng chỉ số HHI và Lerner thì cạnh tranh làm giảm tác động truyền dẫn CSTT, nhưng khi đo bằng chỉ số Boone thì cạnh tranh lại làm tăng cường truyền dẫn; Li (2015) khảo sát 19 nước OECD (2004–2014) bằng chỉ số HHI, ghi nhận cạnh tranh tác động tiêu cực đến cho vay thế chấp nhưng tác động tích cực đến cho vay ký quỹ hộ gia đình.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Từ việc điểm luận các công trình nghiên cứu, luận án xác định ba khoảng trống học thuật:

  1. Các nghiên cứu quốc tế và trong nước chưa đạt được sự đồng thuận về việc có hay không sự tồn tại của kênh truyền dẫn tín dụng, cũng như mức độ tác động tương đối của kênh này so với các kênh truyền dẫn khác.
  2. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam về tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng lên mức độ truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng còn hạn chế và các cơ chế lý giải (vùng đệm vốn, chi phí chuyển đổi thông tin, ứng dụng công nghệ 4.0) chưa được lượng hóa rõ ràng.
  3. Chưa có nghiên cứu nào tại hệ thống NHTM Việt Nam thực hiện so sánh song song hai cách tiếp cận đo lường năng lực cạnh tranh (tiếp cận truyền thống qua chỉ số Lerner và tiếp cận mới qua chỉ số Boone) để xác định chỉ số nào phản ánh chuẩn xác hơn mức độ ảnh hưởng đến truyền dẫn CSTT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn: Khung lý thuyết của luận án dựa trên các nghiên cứu của Mishkin (2010, 2013), Nguyễn Minh Kiều (2006), Keynes (1936) và Davidson (2002). Hệ thống điều hành CSTT bao gồm: công cụ điều hành (nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu/tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc); mục tiêu hoạt động (dự trữ của các ngân hàng trung gian, lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng); mục tiêu trung gian (tổng mức cung tiền M1, M2, tổng khối lượng tín dụng); và mục tiêu cuối cùng (ổn định giá cả/kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, duy trì thất nghiệp ở mức tự nhiên, ổn định thị trường tài chính và tỷ giá). Cơ chế truyền dẫn được xem xét qua mô hình IS-LM với kênh lãi suất tiêu chuẩn:

    $$\text{CSTT mở rộng: } M \uparrow ;\rightarrow; i_r \downarrow ;\rightarrow; I \uparrow ;\rightarrow; Y \uparrow$$

    Bên cạnh đó là kênh giá cả tài sản, kênh tỷ giá và kênh tín dụng ngân hàng (Bank Lending Channel).

  • Lý thuyết năng lực cạnh tranh của NHTM:

    • Tiếp cận cấu trúc: Dựa trên mô hình Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP - Structure-Conduct-Performance) và chỉ số tập trung Hirschman-Herfindahl (HHI).
    • Tiếp cận phi cấu trúc: Khắc phục nhược điểm của tiếp cận cấu trúc. Bao gồm mô hình Panzar & Rosse (1987) với chỉ số thống kê $H$; mô hình Lerner (1930) đo lường sức mạnh thị trường thông qua mức độ chênh lệch giữa giá sản phẩm và chi phí biên ($MC$); và mô hình Boone (2008) đo lường dựa trên giả thuyết phân bổ lại thị phần từ các đơn vị kinh doanh kém hiệu quả sang các đơn vị có chi phí biên thấp hơn.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Luận án kết hợp hai phương pháp định lượng chính nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu:

  1. Phương pháp mô hình Vectơ hiệu chỉnh sai số (VECM - Vector Error Correction Model): Áp dụng để trả lời câu hỏi nghiên cứu số 1. Kế thừa mô hình của Sun, Ford, & Dickinson (2010), mô hình VECM được áp dụng đối với chuỗi dữ liệu thời gian vĩ mô sau khi thực hiện các kiểm định nghiệm đơn vị (ADF) nhằm xác định tính dừng, lựa chọn độ trễ tối ưu (dựa trên tiêu chuẩn Lag Order Selection Criteria), kiểm định quan hệ đồng tích hợp Johansen và kiểm định nhân quả Granger. VECM cho phép phân tích đồng thời mối quan hệ cân bằng trong dài hạn và các biến động điều chỉnh trong ngắn hạn giữa công cụ CSTT và kênh tín dụng.
  2. Phương pháp ước lượng GMM sai phân (DGMM - Difference Generalized Method of Moments): Áp dụng để trả lời câu hỏi nghiên cứu số 2 và 3. Kế thừa mô hình của Amidu & Wolfe (2013), Olivero và cộng sự (2011b), Gunji, Miura, & Yuan (2009) và Khan và cộng sự (2016). Tác giả sử dụng kỹ thuật ước lượng DGMM hai bước (Arellano & Bond, 1991) được thực hiện trên phần mềm Stata 15. Mô hình chứa biến trễ của biến phụ thuộc (tăng trưởng tín dụng), do đó phương pháp ước lượng tác động cố định (FEM) thông thường sẽ gặp hiện tượng nội sinh (Baltagi, 2008). DGMM giúp kiểm soát hiện tượng nội sinh, đồng thời khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu bảng động.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

Cấp độ dữ liệu Tần suất Giai đoạn Danh mục biến số Nguồn thu thập
Dữ liệu vĩ mô Tháng 01/2008 – 12/2017 (120 quan sát) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), Tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế, Tiền gửi của khách hàng, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), Tốc độ tăng trưởng cung tiền M2, Lãi suất tái chiết khấu, Chỉ số VN-Index Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE)
Dữ liệu vi mô cấp ngân hàng Năm 2008 – 2017 (Dữ liệu bảng cân bằng 30 NHTMCP) Tăng trưởng cho vay, Quy mô tài sản, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Khả năng thanh khoản, Chỉ số Lerner, Chỉ số Boone, Tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát (INF) Báo cáo tài chính đã kiểm toán của 30 NHTM cổ phần, tính toán của tác giả qua phần mềm Excel và Stata 15

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung tổng thể của luận án. Tác giả trình bày bối cảnh kinh tế vĩ mô và sự vận hành của CSTT tại Việt Nam giai đoạn 2008–2017, chỉ rõ những bất cập nảy sinh khi CSTT bị thắt chặt và sức ép cạnh tranh ngày càng cao trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Tác giả tiến hành lược khảo hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến kênh truyền dẫn tín dụng và ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh ngân hàng, từ đó xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu. Chương này công bố mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi dữ liệu bảng cân bằng 30 NHTMCP giai đoạn 2008–2017, quy trình nghiên cứu 3 bước và cấu trúc 5 chương của toàn bộ luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về tác động truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh tại NHTM

Chương 2 cung cấp nền tảng lý luận cho đề tài. Nội dung chương tập trung vào:

  • Phân tích bản chất, mục tiêu (hoạt động, trung gian, cuối cùng), các công cụ của CSTT và cơ chế vận hành của 4 kênh truyền dẫn chính (lãi suất theo mô hình IS-LM, giá cả tài sản, tỷ giá hối đoái, tín dụng).
  • Hệ thống hóa các lý thuyết về năng lực cạnh tranh của NHTM, phân định rõ giữa cách tiếp cận cấu trúc (mô hình SCP, chỉ số HHI) và cách tiếp cận phi cấu trúc (chỉ số H của Panzar-Rosse, chỉ số Lerner về sức mạnh thị trường, chỉ số Boone về hiệu quả chi phí).
  • Phân tích cơ chế tác động của năng lực cạnh tranh lên kênh truyền dẫn tín dụng qua ba luận điểm: (i) Ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao (quy mô lớn, vốn chủ sở hữu mạnh, công nghệ hiện đại) có ưu thế tiếp cận các nguồn vốn thay thế, tạo ra "vùng đệm" chống chịu các cú sốc CSTT, dẫn đến làm suy yếu tác động của CSTT qua kênh tín dụng; (ii) Năng lực cạnh tranh cao làm gia tăng chi phí chuyển đổi của khách hàng vay do tính bất đối xứng thông tin, điều này có thể khuếch đại cú sốc CSTT đối với việc điều chỉnh cung tín dụng; (iii) Xu hướng phát triển công nghệ ngân hàng số và liên kết Fintech giúp mở rộng độ bao phủ dịch vụ tài chính, giảm thiểu bất cân xứng thông tin, từ đó hỗ trợ việc truyền tải CSTT chính xác hơn.

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết hai mô hình định lượng ứng với các mục tiêu nghiên cứu:

  • Mô hình VECM đánh giá truyền dẫn vĩ mô: Xây dựng hệ phương trình dựa trên mô hình của Sun và cộng sự (2010) với các biến: chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tăng trưởng tín dụng, cung tiền M2, lãi suất tái chiết khấu, tiền gửi khách hàng và chỉ số VN-Index. Trình bày quy trình kiểm định tính dừng ADF, phương pháp lựa chọn độ trễ Lag Order Selection Criteria, kiểm định đồng tích hợp Johansen và kiểm định quan hệ nhân quả Granger.
  • Mô hình DGMM đánh giá ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh: Thiết lập mô hình dữ liệu bảng động kế thừa Amidu & Wolfe (2013), Olivero và cộng sự (2011b) và Khan và cộng sự (2016). Biến phụ thuộc là tăng trưởng cung tín dụng của NHTM; các biến giải thích bao gồm: biến trễ của tăng trưởng tín dụng, các công cụ CSTT (lãi suất tái chiết khấu, tăng trưởng M2), biến đại diện năng lực cạnh tranh (chỉ số Lerner và chỉ số Boone), các số hạng tương tác giữa CSTT và năng lực cạnh tranh, các biến kiểm soát đặc điểm nội tại của ngân hàng (quy mô tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, thanh khoản) và biến vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát). Trình bày cơ chế ước lượng DGMM hai bước nhằm xử lý triệt để biến nội sinh.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác động truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh tại NHTM Việt Nam

Chương 4 công bố toàn bộ các kết quả ước lượng thực nghiệm:

Kết quả mô hình VECM đối với kênh tín dụng tại Việt Nam

  • Các kiểm định nghiệm đơn vị ADF khẳng định các chuỗi dữ liệu đạt tính dừng ở sai phân bậc 1; kiểm định lựa chọn độ trễ xác định độ trễ tối ưu cho mô hình; kiểm định Johansen khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn giữa các biến số.
  • Ước lượng VECM cho thấy: Lãi suất tái chiết khấu có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế ở cả trong ngắn hạn và dài hạn. Khi NHNN giảm lãi suất tái chiết khấu (nới lỏng CSTT), tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng gia tăng.
  • Tăng trưởng tín dụng kích thích gia tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP - đại diện cho sản lượng nền kinh tế) trong ngắn hạn, nhưng mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê trong dài hạn. Kết quả này chứng minh tác động truyền dẫn của CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam chỉ tồn tại trong ngắn hạn mà không tồn tại trong dài hạn.

Đo lường và so sánh năng lực cạnh tranh (Lerner và Boone) giai đoạn 2008–2017

  • Luận án tính toán giá trị chỉ số Lerner và chỉ số Boone của 30 NHTMCP Việt Nam theo từng năm trong giai đoạn 2008–2017.
  • Phân tích tương quan cặp giữa hai chỉ số cho thấy việc sử dụng chỉ số Lerner phản ánh mức độ phù hợp và độ tin cậy cao hơn so với chỉ số Boone trong việc đánh giá tương tác giữa sức mạnh thị trường của ngân hàng và mức độ truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng.

Kết quả ước lượng mô hình DGMM

  • Kết quả ước lượng mô hình bảng động DGMM hai bước (áp dụng lần lượt cho công cụ lãi suất tái chiết khấu và cung tiền M2) khẳng định sự tồn tại ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh lên cơ chế truyền dẫn CSTT.
  • Cả hai thước đo Lerner và Boone đều chỉ ra năng lực cạnh tranh của ngân hàng tác động cùng chiều hướng nhưng khác nhau về biên độ ảnh hưởng.
  • Hệ số tương tác chỉ ra rằng các NHTM có năng lực cạnh tranh cao hơn (sức mạnh thị trường lớn hơn, thể hiện qua chỉ số Lerner cao hơn) thì cung tín dụng ít nhạy cảm hơn trước các cú sốc CSTT. Do sở hữu nguồn vốn chủ sở hữu lớn, mạng lưới huy động rộng và khả năng đa dạng hóa nguồn tài trợ, các ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao có thể tự tạo "vùng đệm" bảo vệ hoạt động tín dụng, làm suy yếu hiệu lực điều tiết của CSTT qua kênh tín dụng.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 đúc kết các phát hiện then chốt và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Hàm ý đối với NHNN: Nâng cao năng lực điều hành CSTT trong bối cảnh hệ thống ngân hàng ngày càng cạnh tranh; hoàn thiện và tăng cường sử dụng các công cụ thị trường gián tiếp thay cho các biện pháp hành chính; nhận diện xu hướng suy yếu của kênh tín dụng khi năng lực cạnh tranh ngân hàng tăng lên để chủ động kết hợp đồng bộ các kênh truyền dẫn thay thế (kênh lãi suất, kênh tỷ giá).
  • Hàm ý về kiểm soát cấu trúc hệ thống: Giám sát chặt chẽ quy mô vốn chủ sở hữu và mức độ tập trung thị trường của hệ thống NHTM; kiểm soát việc sáp nhập, hợp nhất ngân hàng nhằm đảm bảo không tạo ra các định chế có sức mạnh thị trường quá lớn gây cản trở mục tiêu CSTT; thiết lập cơ chế pháp lý nhằm phát triển năng lực cạnh tranh đồng đều giữa các nhóm NHTM, giảm thiểu rủi ro biến dạng chính sách.
  • Hạn chế và hướng nghiên cứu: Nêu rõ các giới hạn về cỡ mẫu, khung thời gian khảo sát và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đã so sánh thực nghiệm hai phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh phi cấu trúc (chỉ số Lerner truyền thống và chỉ số Boone hiện đại) trong việc giải thích cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại một thị trường mới nổi như Việt Nam. Kết quả khẳng định chỉ số Lerner có mức độ tương thích và giải thích tốt hơn so với chỉ số Boone trong các mô hình thực nghiệm đánh giá kênh truyền dẫn tín dụng ngân hàng.
  • Bổ sung bằng chứng khoa học làm sáng tỏ cơ chế tác động của năng lực cạnh tranh: ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao (sức mạnh thị trường lớn) sở hữu "vùng đệm" tài chính mạnh hơn từ quy mô vốn và khả năng huy động, từ đó làm giảm độ nhạy cảm của cung tín dụng trước các cú sốc thắt chặt CSTT.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Lượng hóa tác động truyền dẫn vĩ mô: Bằng mô hình VECM, luận án xác định cụ thể tác động của công cụ lãi suất tái chiết khấu đến tăng trưởng tín dụng và sản lượng nền kinh tế Việt Nam. Kết quả chứng minh tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam có tồn tại trong ngắn hạn nhưng không tồn tại trong dài hạn.
  • Lượng hóa ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh: Bằng phương pháp ước lượng DGMM hai bước trên dữ liệu bảng cân bằng 30 NHTMCP giai đoạn 2008–2017, luận án khẳng định năng lực cạnh tranh ngân hàng cao hơn làm cho việc truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng trở nên kém hiệu quả hơn.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp:

  1. Nâng cao năng lực điều hành CSTT của NHNN: Cần theo dõi sát sao mức độ tập trung và năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM, bởi sự gia tăng sức mạnh thị trường của các ngân hàng sẽ làm suy yếu hiệu lực của kênh tín dụng; chuẩn bị các kịch bản điều hành thông qua các kênh truyền dẫn bổ trợ như kênh lãi suất và kênh tỷ giá.
  2. Hoàn thiện công cụ chính sách: Chuyển đổi linh hoạt và nâng cao hiệu quả của các công cụ gián tiếp (nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu).
  3. Kiểm soát nguồn vốn chủ sở hữu và quy mô: Giám sát chặt chẽ quá trình tăng vốn và mở rộng quy mô thông qua mua bán sáp nhập, đảm bảo việc gia tăng năng lực tài chính không làm méo mó các tín hiệu CSTT.
  4. Tạo hành lang phát triển năng lực cạnh tranh đồng đều: Xây dựng khung pháp lý minh bạch, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và ngân hàng số nhằm giảm chi phí chuyển đổi và giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin giữa các nhóm ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát trên mẫu dữ liệu bảng cân bằng gồm 30 NHTM cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2008–2017. Các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chưa cổ phần hóa hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa được phản ánh trọn vẹn trong cùng mẫu phân tích.
  • Nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào kênh tín dụng và hai thước đo năng lực cạnh tranh (Lerner và Boone), chưa xem xét đồng thời sự tương tác chéo giữa năng lực cạnh tranh với các kênh truyền dẫn khác như kênh giá cả tài sản hay kênh tỷ giá trong cùng một hệ thống mô hình vi mô.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu cập nhật cho giai đoạn sau năm 2017 để đánh giá tính ổn định của các hệ số hồi quy trong bối cảnh thị trường tài chính có thêm những biến động mới.
  • Khảo sát mở rộng thêm các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
  • Kết hợp đánh giá đa kênh truyền dẫn (kênh lãi suất, kênh tỷ giá, kênh giá tài sản) dưới sự tác động đồng thời của cấu trúc thị trường và công nghệ tài chính mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá mức độ suy giảm hiệu lực truyền dẫn của kênh tín dụng khi cấu trúc hệ thống ngân hàng trở nên tập trung hơn. Phần kết quả thực nghiệm mô hình VECM và DGMM (Chương 4) cùng hệ thống gợi ý chính sách (Chương 5) là tài liệu tham khảo trong việc lựa chọn công cụ điều hành và giám sát cấu trúc thị trường ngân hàng.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Tài chính – Ngân hàng: Cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị về mặt phương pháp luận, kết hợp mô hình VECM xử lý chuỗi thời gian vĩ mô và mô hình bảng động DGMM hai bước xử lý hiện tượng nội sinh (Chương 3 và Phụ lục kiểm định). Đồng thời, tài liệu cung cấp quy trình tính toán chi tiết chỉ số Lerner và chỉ số Boone trong đo lường năng lực cạnh tranh ngân hàng.
  • Đối với nhà quản trị tại các NHTM: Giúp các nhà điều hành ngân hàng nhận diện được phản ứng của cung tín dụng, cơ chế hình thành "vùng đệm" vốn tự có và tác động của các cú sốc CSTT đến tính thanh khoản và quy mô cho vay của đơn vị mình.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác động truyền dẫn của CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam tồn tại trong ngắn hạn hay dài hạn?

Dựa trên kết quả ước lượng mô hình VECM đối với chuỗi số liệu từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2017, lãi suất tái chiết khấu có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng tín dụng ở cả ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, sự gia tăng của tín dụng chỉ thúc đẩy tăng trưởng sản lượng nền kinh tế (đo lường qua chỉ số sản xuất công nghiệp IIP) trong ngắn hạn, không có ý nghĩa thống kê trong dài hạn. Do đó, luận án kết luận kênh truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam chỉ tồn tại trong ngắn hạn, không tồn tại trong dài hạn.

2. Năng lực cạnh tranh của các NHTM ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả truyền dẫn của CSTT qua kênh tín dụng?

Kết quả ước lượng mô hình bảng động DGMM trên 30 NHTMCP giai đoạn 2008–2017 chứng minh rằng năng lực cạnh tranh của ngân hàng cao hơn (tức sức mạnh thị trường lớn hơn) sẽ làm cho việc truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng trở nên kém hiệu quả hơn. Các ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao sở hữu "vùng đệm" vốn tự có và khả năng huy động vốn tốt hơn, giúp họ phòng hộ và duy trì cung tín dụng ổn định trước các cú sốc tiền tệ, làm giảm độ nhạy cảm của kênh tín dụng đối với sự điều tiết của NHNN.

3. Tại sao tác giả đánh giá chỉ số Lerner phù hợp hơn chỉ số Boone trong việc đo lường năng lực cạnh tranh tại hệ thống NHTM Việt Nam?

Qua phân tích tương quan cặp giữa hai chỉ số trong mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động truyền dẫn CSTT, chỉ số Lerner thể hiện mức độ tương thích và tính giải thích cao hơn, ổn định hơn so với chỉ số Boone. Do đó, tác giả chỉ ra rằng tiếp cận truyền thống theo chỉ số Lerner phản ánh phù hợp hơn cấu trúc cạnh tranh và sức mạnh thị trường của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

4. Luận án sử dụng những công cụ và mô hình kinh tế lượng cụ thể nào?

Luận án sử dụng hai công cụ kinh tế lượng chính:

  • Mô hình VECM (Vector Error Correction Model) với các kiểm định nghiệm đơn vị ADF, kiểm định độ trễ tối ưu, kiểm định đồng tích hợp Johansen và kiểm định nhân quả Granger đối với dữ liệu chuỗi thời gian vĩ mô theo tháng.
  • Phương pháp hồi quy DGMM hai bước (Difference Generalized Method of Moments của Arellano & Bond, 1991) được thực hiện trên phần mềm Stata 15 đối với dữ liệu bảng cân bằng động của 30 NHTM cổ phần nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh do sự xuất hiện của biến trễ biến phụ thuộc.

5. Biến số vĩ mô và vi mô nào được đưa vào mô hình DGMM để kiểm soát các yếu tố tác động?

Mô hình DGMM kiểm soát các yếu tố nội tại của từng ngân hàng bao gồm: quy mô tài sản (đại diện cho kích thước ngân hàng), tỷ lệ vốn chủ sở hữu, và mức độ thanh khoản. Các biến số kinh tế vĩ mô được kiểm soát trong mô hình gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF), tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và công cụ lãi suất tái chiết khấu của NHNN.


Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Hà An đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu thông qua việc kết hợp mô hình VECM trên chuỗi dữ liệu vĩ mô theo tháng và mô hình DGMM hai bước trên dữ liệu bảng cân bằng của 30 NHTM cổ phần giai đoạn 2008–2017. Kết quả nghiên cứu khẳng định tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam tồn tại trong ngắn hạn nhưng không duy trì trong dài hạn, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy năng lực cạnh tranh ngân hàng cao hơn làm suy yếu hiệu lực truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng. Công trình đóng góp cơ sở khoa học về việc lựa chọn chỉ số Lerner trong đo lường sức mạnh thị trường ngân hàng tại Việt Nam và cung cấp các hàm ý chính sách thực tiễn để NHNN chủ động phối hợp các công cụ và các kênh truyền dẫn bổ trợ trong môi trường cạnh tranh.