CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Trước hết, chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, xuất phát từ “tự do kinh tế” mà Adam Smith đã phát hiện. Nhờ cạnh tranh mà xã hội loài người ngày càng phát triển về mọi mặt.
Cạnh tranh, nói chung, là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra nhiều sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất. Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của muôn loài.
Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội. Biện pháp kỹ thuật là áp dụng công nghệ hiện đại, máy móc thiết bị tiên tiến, công nhân có trình độ lành nghề cao; biện pháp kinh tế như trợ cấp tài chính, bảo hộ, cho vay ưu đãi, bán phá giá,…; biện pháp chính trị-kinh tế là dùng áp lực chính trị để buộc đối phương phải nhượng bộ một hoặc một số điều kiện thương mại nào đó có lợi cho mình; biện pháp quân sự như gây chiến tranh cục bộ, hoặc chiến tranh thế giới để gây ảnh hưởng và chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là NLCT hay sức cạnh tranh.
LuËn v¨n th¹c sü - NguyÔn ThÞ HuyÒn 11 z N¨ng lùc c¹nh tranh cña Ng©n hµng TMCP An B×nh (ABBANK) trong điÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ Nhiều DN (nói riêng) và nhiều tổ chức (nói chung) của một quốc gia có NLCT thì quốc gia đó sẽ có NLCT. Hiện nay, thuật ngữ “NLCT” là một khái niệm được sử dụng để đánh giá cho tất cả các DN, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia. Nhưng những mục tiêu cơ bản lại được đặt ra khác nhau phụ thuộc vào những góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong khi đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân, thì đối với một DN mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế.
Có khá nhiều những khái niệm về NLCT và trong luận văn này xin trích dẫn một số khái niệm nhằm làm hiểu rõ hơn về vấn đề này. Theo báo cáo về Đánh giá NLCT toàn cầu, NLCT đối với một quốc gia là “khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”. Báo cáo đầu tiên về NLCT công nghiệp Châu Âu (CEC -1996) cũng chỉ ra rằng, “NLCT của một quốc gia là khả năng quốc gia đó tạo ra mức tăng trưởng phúc lợi cao và gia tăng mức sống cho người dân của nước mình” Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại đưa ra một khái niệm về NLCT. Đó là: “NLCT là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Hội đồng về sức cạnh tranh của Mỹ đề nghị định nghĩa: “Sức cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài”. Trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một DN, hoặc một ngành, một quốc gia không bị ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”. LuËn v¨n th¹c sü - NguyÔn ThÞ HuyÒn 12 z N¨ng lùc c¹nh tranh cña Ng©n hµng TMCP An B×nh (ABBANK) trong điÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ Theo Michael Porter thì: “ Mục tiêu kinh tế chính của một quốc gia là mang lại cho người dân của nước đó một mức sống cao và tăng dần. Khả năng để làm điều đó không chỉ dựa vào khái niệm vô định hình về “sức cạnh tranh” mà dựa vào năng suất sử dụng các nguồn lực (nhân công và vốn)” và “Khái niệm có ý nghĩa duy nhất về sức cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia.
Một mức sống tăng dần phụ thuộc vào khả năng đạt được những mức năng suất cao và tăng năng suất theo thời gian của các DN trong một quốc gia”. Tuy nhiên, chính Micheal Porter cũng khẳng định: “Dù cho định nghĩa nào về sức cạnh tranh được sử dụng, một vấn đề thậm chí nghiêm trọng hơn là chẳng hề có một lý thuyết được chấp nhận rộng rãi nào giải thích về sức cạnh tranh. Rất nhiều đặc trưng của quốc gia và của DN được đề xuất là tiêu chí quan trọng nhưng chẳng có cách nào để phân lập và tích hợp những đặc trưng nổi trội nhất”. Ông cho rằng không có định nghĩa nào về NLCT được thừa nhận phổ biến.
Đối với các lãnh đạo DN, NLCT có nghĩa là sức cạnh tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu hoá mà có được. Đối với nhiều nghị sĩ quốc hội sức cạnh tranh là xuất siêu trong ngoại thương. Đối với một số nhà kinh tế học, sức cạnh tranh là giá thành thấp của đơn vị sức lao động dựa vào điều chỉnh hối suất,… 1. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp NLCT của DN là khả năng DN tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Theo Micheal Porter thì: “Những DN có khả năng cạnh tranh là những DN đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hoá và dịch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận (doanh thu – chi phí) và/hoặc thị phần. Về cơ bản, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà DN có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của DN đã phải bỏ ra. Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn xuất hiện khi DN chào bán các tiện ích tương đương nhưng với LuËn v¨n th¹c sü - NguyÔn ThÞ HuyÒn 13 z N¨ng lùc c¹nh tranh cña Ng©n hµng TMCP An B×nh (ABBANK) trong điÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp các tiện ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường. Khái niệm trên đã phần nào phản ánh tương đối toàn diện về NLCT của một DN.
Nó chỉ rõ mục tiêu của cạnh tranh và những đặc điểm cơ bản của việc cạnh tranh thành công. Theo ông, để có thể cạnh tranh thành công, các DN phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các DN cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn. Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để đánh giá NLCT của DN, người ta dựa vào nhiều tiêu chí như thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của DN đối với xã hội, tài sản của DN, nhất là tài sản vô hình, tỷ lệ công nhân lành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo,… Những yếu tố đó tạo cho DN có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho DN khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai.
Theo cuốn sách “NLCT của DN trong điều kiện toàn cầu hoá” của tác giả Trần Sửu (NXB Lao động 2006): Hiện tại ở Việt Nam chưa có ai hay tổ chức nào đưa ra tiêu chí để đánh giá NLCT của DN. Các nhà kinh tế học Việt Nam đang nghiên cứu các phương pháp đánh giá NLCT của DN. Chúng ta hãy đón chờ các tiêu chí chính thức đó. Ở đây tác giả đưa ra một số tiêu chí đánh giá NLCT của DN theo tầm nhận thức của mình trong quá trình nghiên cứu vấn đề này.
Các tiêu chí này có thể chưa phản ánh được toàn diện những vấn đề thuộc về NLCT DN, mặt khác phần lớn các tiêu chí còn mang tính định tính, chưa mô hình hoá để định lượng được, tuy rằng độ chính xác của định tính cũng được chấp nhận bằng kỹ thuật chọn LuËn v¨n th¹c sü - NguyÔn ThÞ HuyÒn 14 z N¨ng lùc c¹nh tranh cña Ng©n hµng TMCP An B×nh (ABBANK) trong điÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ mẫu và xử lý dữ liệu. Mặc dù chưa được toàn diện xong các tiêu chí này đã nói lên được những nội dung cốt lõi của NLCT DN. Tuỳ theo tình hình cụ thể khi đánh giá mà một số tiêu chí có thể thêm hoặc bớt. Trong mỗi tiêu chí có thể có các tiêu chí phụ.
Tổ chức của doanh nghiệp và phân công trách nhiệm Nhiều nhà kinh tế học nước ngoài cho rằng một tổ chức mạnh quyết định tới 70% đến 80% thành công trong mọi hoạt động của tổ chức (DN) ấy. Điều đó nói lên vai trò của tổ chức quan trọng đến mức nào.