đặt vấn đề nghiên cứu trong một bối cảnh cụ thể, ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và các chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh được lựa chọn để nghiên cứu bởi vì còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và TP. Hồ Chí Minh là thành phố tập trung hầu hết tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam đang hoạt động tại đây. Khái quát tình hình cạnh tranh các ngân hàng thương mại Việt Nam Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô. Số lượng ngân hàng từ 9 ngân hàng vào năm 1991 lên 74 ngân hàng vào năm 2001 và tới thời điểm 31/12/2013 là 98 ngân hàng.
Trong đó, 1 ngân hàng thương mại quốc doanh, 37 ngân hàng TMCP, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa kể văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, số lượng ngân 4 hàng tăng lên tập trung vào 2 khối là NHTMCP và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho thấy sức hấp dẫn của ngành Ngân hàng Việt Nam đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như các tổ chức tài chính quốc tế. Ngoài các ngân hàng, thị trường tài chính Việt Nam còn khoảng 30 công ty tài chính và cho thuê tài chính, hơn 1. Như vậy, sau khi ký kết Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (2001) và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (2007), Việt Nam đã mở cửa thị trường đối với các ngân hàng nước ngoài.
Sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài đang tăng lên đáng kể. Trước cuộc đổ bộ này, các ngân hàng nội buộc phải có những chuẩn bị như tăng vốn, hợp tác với nước ngoài để hạn chế mất thị phần.1: Số lượng NHTM Việt Nam 2013 Ngân hàng TMQD Ngân hàng TMCP Chi nhánh NHNN Ngân hàng Liên doanh Ngân hàng 100% vốn NN Tổng số ngân hàng 96 98 74 75 48 51 39 37 37 34 26 29 9 4 4 5 4 5 4 5 4 5 4 5 0 1 0 0 0 1 1991 2001 2005 2010 2013 Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Hiện nay, các NHTM có vốn nhà nước vẫn thống trị cả thị trường tín dụng lẫn huy động nhưng họ đang mất dần thị phần cả về huy động lẫn tín dụng cho các đối thủ thuộc nhóm thương mại cổ phần. Nếu như năm 2000, 4 NHTMNN chiếm 70% thị phần tín dụng thì đến năm 2007, tỷ lệ này giảm về dưới 60% và hiện chỉ nhỉnh hơn một chút so với khối ngân hàng thương mại cổ phần. Chỉ 5 năm trở lại đây, NHTMCP đã giành được hơn 15% thị phần từ tay NHTMNN.
Trong khi Agribank là ngân hàng mất nhiều thị phần nhất thì thị phần của VietinBank lại tăng thêm 1,3% trong vòng 3 năm qua. 5 Cuộc cạnh tranh về thị phần càng trở nên gay gắt hơn khi quá trình tái cơ cấu ngân hàng được đẩy nhanh để giải quyết vấn đề nợ xấu cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Thêm vào đó, hiện khối NHTMNN tập trung chủ yếu vào cho vay các tập đoàn, DNNN, trong khi khối NHTMCP tập trung cho vay DN nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân, trong khi khối ngân hàng ngoại t ích cực chào vay các doanh nghiệp trong nước, thì khối ngân hàng nội cũng tích cực tiếp cận doanh nghiệp FDI.2: Thị phần tín dụng ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007-2013 70.0% 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô hoạt động của các ngân hàng cũng phát triển mạnh mẽ. Năm 2007, tổng tài sản của các ngân hàng là 1.500 ngàn tỷ đồng thì đến năm 2012 quy mô tổng tài sản của các ngân hàng và tổ chức tín dụng tại Việt Nam đạt trên 4.866,118 ngàn tỷ đồng.
Trong đó khối NHTMCP chiếm tỷ trong cao nhất với 43,21% tổng tài sản vượt lên trên 5 NHTMQD (42,52%). Theo công bố của NHNN thìđ ến cuối năm 2013 quy mô tổng tài sản của toàn hệ thống đạt 5.755,87 nghìn tỷ đồng, tăng 899,752 ngàn tỷ đồng so với năm 2012. Trong đó, tổng tài sản của nhóm ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước (VCB, Agribank, Vietinbank, BIDV) đạt 2.504,87 nghìn tỷ đồng, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 2. Theo báo cáo tài chính hợp nhất một số ngân hàng mới công bố, tổng tài sản đến 31/12/2013 của Vietcombank đạt 467.459 tỷ đồng, tăng tới 52.970 tỷ đồng so cuối 2012; tài sản của BIDV cũng tăng hơn 13%.
Trong khi đó, 7 bán 85% cổ phần cho một nhóm các nhà đầu tư (do Tập đoàn Thiên Thanh đứng đầu), và vụ sát nhập Ngân hàng TMCP Phương Tây (Western Bank) với Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC). Các nhà đầu tư nước ngoài đã tăng cư ờng sự hiện diện của mình trong khu vực ngân hàng, với vụ mua lại 20% cổ phần của Ngân hàng Tiên Phong của một nhóm các nhà đầu tư do DOJI đứng đầu Biểu đồ 1.4: Quy mô vốn CSH và vốn điều lệ năm 2012 450.000 Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Theo báo cáo kết quả tài chính năm 2013 của nhiều ngân hàng thương mại cho thấy, đã b ị lỗ hoặc sụt giảm mạnh về lợi nhuận. Nhiều NHTM phải cắt giảm nhân sự, thu hẹp mạng lưới… để giảm chi phí. Hệ thống NHTM cũng đang bước vào cuộc thanh lọc mạnh mẽ.
Theo báo cáo của NHNN, lợi nhuận của toàn hệ thống ngân hàng lũy kế đến hết tháng 11/2013 đạt 29.500 tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm 2012. Tuy nhiên, nếu so sánh với các năm 2010-2011, thì lợi nhuận trước thuế lũy kế năm 2013 chỉ bằng 53% -64%. Đặc biệt, có tới 17% ngân hàng lỗ trong năm 2013. Nhìn chung, trong năm 2013 trên 50% ốs ngân hàng giảm lợi nhuận so với năm 2012.
Do tình hình kinh tế khó khăn trong giai đoạn 2010 – 2013, các doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn nên không vay thêm và chỉ tập trung duy trì và ổn định sự hoạt động. Theo tổng cục Thống kê số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước, 8 trong đó số doanh nghiệp đã gi ải thể là 9.818 doanh nghiệp, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803 doanh nghiệp, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40.116 doanh nghi ệp, tăng 8,6%. Thêm vào đó, các ngân hàng cũng ngần ngại khi nợ xấu tăng cao.5: Kết quả tài chính một số NHTMCP năm 2013 ĐVT: Ngàn tỷ đồng 700.000 CTG VCB STB EIB SHB ACB BID MBB NVB TECH EAB Tổng tài sản 576.919 Tiền gửi khách hàng 364.086 Vốn chủ sở hữu 54.884 Thu nhập lãi thuần 18.227 Lợi nhuận trước thuế 7.430 Lợi nhuận sau thuế 5.328 Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các NHTMCP Đến hết năm 2013, ROA, ROE của các ngân hàng cũng chưa được cải thiện, đều giảm so với năm 2012 khi chỉ đạt lần lượt 0. So với năm 2012 đã giảm trên 50% ROA và trên 40% ROE.
Nguyên nhân chủ yếu là chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào giảm mạnh, chi phí dự phòng rủi ro, tập trung là rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tăng mạnh, trong khi chất lượng dự phòng giảm sút. Tỷ lệ an toàn vốn CAR đến 31/12/2013 đạt 13,25% giảm mạnh so với mức 13,75% của cuối tháng 12/2012. Trong đó, CAR của khối ngân hàng thương mại Nhà nước đạt 10.91%, khối ngân hàng thương mại cổ phần đạt 12,56%. Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động tại thị trường 1 của toàn hệ thống đạt 84,71%.
9 Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng có xu hướng tăng nhanh đáng kể từ 2009 đến 2012. Tại thời điểm cuối năm 2009 tỷ lệ này là 2,2% nhưng đến tháng 9/2012 con số này là 8,82%. Đến 31/12/2012, tổng dư nợ đối với nền kinh tế là 3.904 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu 4,08% tương ứng với 126.108 tỷ đồng nợ xấu. Trong năm 2013 nợ xấu của toàn ngành có những dấu hiệu tích cực, giảm từ mức 4,3% đầu năm 2013 xuống còn 3,79% vào 31/12/2013 nhưng con số tuyệt đối tương ứng là 131.
Đây là kết quả của việc các NHTM đã chủ động, tích cực dùng dự phòng để xử lý nợ xấu, đồng thời thận trọng hơn trong các quyết định cho vay nhằm đảm bảo chất lượng tài sản. Mặc dù vậy, theo báo cáo của tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investor Service thì nợ xấu của ngân hàng Việt Nam phải chiếm ít nhất 15% tổng tài sản và đây là nước có tỷ lệ nợ xấu cao nhất trong 6 nước Đông Nam Á mà Fitch theo dõi. Tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam đến cuối tháng 2/2014 là 3,86%, tương đương với 122. Tuy nhiên, có khoảng 185.000 tỷ đồng nợ do thực hiện Quyết định 780/QĐ-NHNN của NHNN về cơ cấu lại nợ nên đã không đư ợc chuyển thành nợ xấu.
Nếu cộng cả số nợ này thì tại thời điểm này tổng số nợ xấu vào khoảng 307.000 tỷ đồng, tương đương 9,71% dư nợ toàn hệ thống.6: Tỷ lệ nợ xấu của NHTMVN giai đoạn 2004 - 2013 5.00% 12/2004 12/2005 12/2006 12/2007 12/2008 12/2009 12/2010 12/2011 12/2012 4/2013 10/2013 12/2013 Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Ngân hàng nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm quy định và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại như thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ (có hiệu lực từ tháng 6 năm 2014), bên cạnh đó Quyết định số 493/2005/QĐ- 10 NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 17/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong phân loại nợ và trích lập dự phòng đ ầy đủ cho các loại nợ. Trong năm 2013, NHNN cũng đã thành l ập công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) để mua nợ xấu giúp các ngân hàng. Tính tới thời điểm 31/12/2013 thì công ty nàyđã mua hơn 35.000 tỷ đồng nợ xấu thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt, theo đúng kế hoạch ban đầu. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có thông tin cụ thể về việc xử lý nợ sau khi VAMC mua vào dù có nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư nước ngoài về việc mua lại nợ xấu của Việt Nam.