lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận năng lực cạnh tranh của NHTM Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của OCEANBANK trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của OCEANBANK trong giai đoạn sắp tới. 6 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 1.
Tổng quan nghiên cứu Bài viết của GS.TS Chu Văn Cấp, năm 2003 (Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia Hà Nội) “Nâng cao sức cạnh tranh của của nền kinh tế nƣớc ta” đã phân tích thực trạng của nền kinh tế nƣớc ta trong thời gian qua và đề ra giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bài viết của TS Nguyễn Đắc Hƣng, năm 2005 “Cơ sở lý luận và thực tiễn của một số giải pháp nâng cao hiệu quả cạnh tranh và hợp tác trong hoạt động của Ngân hàng ở Việt Nam” đã nghiên cứu thực trạng cạnh tranh và hợp tác trong hoạt động của Ngân hàng. Nội dung các giải pháp đƣa ra chủ yếu về cơ chế chính sách, môi trƣờng pháp lý, về sự quản lý của nhà nƣớc, về điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nƣớc. Luận văn thạc sỹ của Phạm Tấn Mến, năm 2008 “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong xu thế hội nhập” đã nghiên cứu về các khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong NHTM, nên lên thực tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, từ đó nêu ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Luận văn thạc sỹ của Trƣơng Hoàng Phƣơng “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long thành phố Cần Thơ (MHB Cần Thơ) trong thời kỳ hội nhập và phát triển” đã nêu đƣợc thực trạng năng lực cạnh tranh của MHB và các NHTM trên địa bàn Cần Thơ thời gian qua. Từ đó, tác giả nêu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của MHB Cần Thơ trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Luận văn tốt nghiệp của Phạm Thị Thùy Dƣơng, năm 2009 “Phân tích năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TM – CP Ngoại thƣơng Việt Nam – Vietcombank” đã đánh giá năng lực cạnh tranh của Vietcombank thông qua phân tích các nhân tố 7 z ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng. Qua đó, tác giả đã đƣa ra nhận xét và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank.
Luận văn “Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đại Dƣơng” là nghiên cứu mới không trùng lặp với các nghiên cứu trƣớc đây, tập trung nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đại Dƣơng. Trong bài viết, tôi đã phân tích các mặt hạn chế của OCEANBANK trong giai đoạn hiện nay, để từ đó tìm ra đƣợc giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của OCEANBANK trong bối cảnh NHNN đang thực hiện sát sao việc sáp nhập và mua bán các Ngân hàng nhỏ và yếu. Khái quát về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Trong Kinh tế học - xuất bản lần 12, tác giả P.D Nordhuas cho rằng : “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng”. Theo Từ điển bách khoa VN (tập I) định nghĩa : “Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất”. Trong cuốn sách “Thị trƣờng, chiến lƣợc, cơ cấu” NXB TP Hồ chí Minh năm 2003, Giáo sƣ Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thƣơng trƣờng phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”. Nhƣ vậy, từ những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, cạnh tranh là chìa khoá của sự phát triển chung của xã hội.
Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trƣớc mắt 8 z và trong tƣơng lai, để từ đó có những hƣớng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lực cạnh tranh đƣợc hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trƣờng cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu doanh nghiệp, đồng thời đạt đƣợc những mục tiêu doanh nghiệp đã đề ra. Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp: - Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nề kinh tế đạt đƣợc tăng trƣởng bền vững, thu hút đầu tƣ, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trƣờng cạnh tranh trong và ngoài nƣớc.
Năng lực cạnh tranh của của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà nó có đƣợc. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: đƣợc đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trƣờng. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Muốn có đƣợc khả năng cạnh tranh tốt, có đƣợc lọi thế cạnh tranh chúng ta cần dựa vào chất lƣợng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh trong NHTM: Cũng giống nhƣ mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt, vì vậy NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ với chất lƣợng cao, với mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác và độ tin cậy và sự tiện lợi nhất để thu hút khách hàng, mở rộng thị phần nhằm thu hút khách hàng. Do vậy, cạnh tranh trong NHTM cũng là sự tranh đua, giành dựt khách hàng dựa trên tất cả các khả năng mà ngân hàng có thể 9 z đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp các sản phẩm có chất lƣợng cao, có sự đặc trƣng riêng của mình so với các NHTM khác trên thị trƣờng, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng, tạo đƣợc uy tín thƣơng hiệu và vị thế trên thƣơng trƣờng. Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Một doanh nghiệp đƣợc xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành.
Một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài. Theo Jack Welch, nếu không có lợi thế thì đừng cạnh tranh. Lợi thế là nền tảng cho sự cạnh tranh. Chính vì vậy, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, những gì mà các đối thủ cạnh tranh khác không có, doanh nghiệp đó sẽ hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp khác, lợi thế cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài hay khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.
Có bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là: hiệu quả, chất lƣợng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng. Chúng là những khối chung của lợi thế cạnh tranh mà một doanh nghiệp có thể làm theo. Theo Porter, lợi thế cạnh tranh (theo đó là lợi nhuận cao hơn) đến với các Doanh nghiệp nào có thể tạo ra giá trị vƣợt trội. Cách thức để tạo ra giá trị vƣợt trội và hƣớng tới việc giảm giảm thấp chi phí kinh doanh và/hoặc tạo ra sự khác biệt vì thế khách hàng đánh giá nó cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng thêm.
Hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một doanh nghiệp và do đó biểu thị nó có lợi thế cạnh tranh hay không, đó là: lƣợng giá trị mà các khách hàng cảm nhận về hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp và chi phí sản xuất của nó. Giá trị cảm nhận của khách hàng là sự lƣu giữ trong tâm trí của họ về những gì mà họ cảm thấy thỏa mãn từ sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Nói chung, giá trị mà khách hàng cảm nhận và và đánh giá về sản phẩm của doanh nghiệp thƣờng cao hơn giá mà doanh nghiệp có thể đòi hỏi về các sản phẩm, dịch vụ của mình. Theo các nhà kinh tế, phần cao hơn đó chính là thặng dƣ ngƣời tiêu dùng mà 10 z khách hàng có thể giành đƣợc.
Cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các doanh nghiệp đã giúp khách hàng nhận đƣợc phần thặng dƣ này. Cạnh tranh càng mạnh phần thặng dƣ này càng lớn. Hơn nữa, doanh nghiệp không thể phân đoạn thị trƣờng chi tiết đến mức mà nó có thể đòi hỏi mỗi khách hàng một mức giá phản ánh đúng đắn những cảm nhận riêng của họ về giá trị sản phẩm – điều mà các nhà kinh tế gọi là sự bảo lƣu giá của khách hàng. Hai lý do này khiến doanh nghiệp chỉ có thể đòi hỏi mức giá thấp hơn giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm.
Đặc điểm của cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng Thứ 1 : Lĩnh vực kinh doanh trong Ngân hàng có liên quan đến tất các các ngành khác trong nền kinh tế.