phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Liên doanh Việt Nga sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của VRB trong thời gian tới. 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦ A NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM 1.1 Năng lực cạnh tranh a) Khái niệm năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là một hiện tƣợng gắn liền với kinh tế thị trƣờng, khái niệm cạnh tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng hoá và phát triển kinh tế thị trƣờng.
Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Đó là một quy luật, không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh, theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh đƣợc hiểu là “Sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [20, tr. Theo quan điểm này, cạnh tranh đƣợc hiểu là các mối quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất.
Trong cạnh tranh sẽ có ngƣời có khả năng cạnh tranh mạnh, ngƣời có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh (NLCT) hay sức cạnh tranh. NLCT là thuật ngữ ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣng đến nay vẫn là khái niệm chung chung và khó đo lƣờng, theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, “NLCT là khả năng giành đƣợc thị phần lớn trƣớc các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng, kể cả khả năng giành lại một thị phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp” [18, tr. 5 z b) So sánh giữa lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.
Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh sau: - Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể đƣợc. Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực lƣợng cạnh tranh mạnh mẽ.
- Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có đƣợc từ những khác biệt xoay quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trƣờng. Những khác biệt này có thể biểu hiện dƣới nhiều hình thức, nhƣ: sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng lƣới bán hàng. Lợi thế so sánh là lợi thế đạt đƣợc trong trao đổi thƣơng mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Lý thuyết về lợi thế so sánh đã đƣợc David Ricardo (1772-1823) nêu ra, theo đó xác định những cái lợi của thƣơng mại bằng cách chứng minh rằng trao đổi, với những sự chuyên môn hóa mà nó tạo nên, đem lại lợi ích cho tất cả những ngƣời cùng trao đổi với nhau.
Mỗi nền kinh tế địa phƣơng ắt sẽ có lợi trong việc chuyên môn hóa trong một hay một số khu vực có một lợi thế so sánh cho dù đó là nguồn nhân công dồi dào hay rẻ tiền, hay là tài nguyên khoáng sản và các tiềm năng về năng lƣợng: than đá, dầu mỏ, … Bản thân lợi thế so sánh đƣợc kiểm nghiệm trên thƣ̣c tế là ta ̣i mỗi khu vƣ̣c nhấ t đinh ̣ thƣờng có mô ̣t nƣớc sản xuấ t ra mô ̣t vâ ̣t chấ t với chi phí sản xuất thấ p nhấ t so với các nƣớc khác trong cùng khu vƣ̣c. Khi đó viê ̣c trao đổ i giƣ̃a các quố c gia là vô cùng có lơ ̣i do viê ̣c mua bán đề u đem la ̣i lơ ̣i ić h cho hai quố c gia tham gia vào quá trình. Do vâ ̣y, có thể nói rằng khi xem xét lợi thế so sánh giữa các quốc gia 6 z thì ta có th ể thấy đƣợc cách sử dụng hiệu quả lực lƣợng sản xuất của các quốc gia và nói rộng ra là thế giới.2 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại a) Đặc điểm của Ngân hàng thương mại Với tƣ cách là một trung gian tài chính, các NHTM giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế và là thƣớc đo trạng thái phát triển của nền kinh tế, chiếm vị trí quan trọng bậc nhất về quy mô vốn, tài sản và nội dung các nghiệp vụ. Một số đặc điểm cơ bản của NHTM trong việc thực hiện một số nghiệp vụ kinh doanh chính nhƣ sau: Một là các NHTM khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, một mặt các NHTM huy động và tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời từ trong dân cƣ, từ các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo nên nguồn vốn, mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động đã hình thành, các NHTM cho vay lại các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân - những ngƣời có nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Nhƣ vậy với chức năng này, NHTM vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. “Vay để cho vay” chính là một trong những phƣơng thức kinh doanh của NHTM, nhằm làm cầu nối giữa những ngƣời có tiền nhàn rỗi tạm thời chƣa dùng đến nhƣng vẫn muốn đồng tiền sinh lời với những ngƣời cần vốn để đầu tƣ sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng mua sắm. Do vậy chỉ khi các NHTM hoạt động thực sự có hiệu quả các NHTM mới có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi đã huy động. Hai là hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động có tính rủi ro cao có thể làm cho ngân hàng mất vốn, hoặc giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, cụ thể, nhƣ rủi ro tín dụng có thể dẫn tới mất vốn khi cung cấp các dịch vụ tín dụng cho khách hàng làm ăn không hiệu quả, không trả đƣợc nợ, hoặc khi bị khách hàng lừa đảo, rủi ro về lãi suất khi có sự biến động về lãi suất trên thị trƣờng.
Ngoài ra ngân hàng có thể gặp rủi ro về thanh khoản khi không cân đối đƣợc luồng tiền, có thể dẫn tới mất khả năng chi trả trong một thời điểm nhất định; rủi ro về tỷ giá khi cung cấp các dịch vụ ngoại hối; rủi ro do sự bất ổn định về chính sách của nhà nƣớc và hàng loạt các rủi ro khác mà ngân hàng có thể gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. 7 z Ba là hoạt động kinh doanh ngân hàng có tính chất hệ thống cao, vì khi thực hiện chức năng thanh toán các NHTM không chỉ dừng lại ở việc cung ứng các dịch vụ trung gian thanh toán, mà còn ở việc quản lý các phƣơng tiện thanh toán. Khi tiến hành dịch vụ trung gian thanh toán, bằng các nghiệp vụ của mình, các NHTM đã tạo ra các công cụ lƣu thông tín dụng nhƣ thƣơng phiếu, séc, thẻ thanh toán,. và độc quyền quản lý các công cụ này, thông qua đó tiết kiệm cho xã hội một lƣợng chi phí lƣu thông đáng kể và góp phần đẩy nhanh tốc độ lƣu chuyển tiền tệ, lƣu chuyển vốn, sản xuất và lƣu thông hàng hoá, nhƣ vậy hoạt động của mỗi ngân hàng có liên hệ chặt chẽ đến hoạt động của các ngân hàng khác.
Chỉ một ngân hàng gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh sẽ làm ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động của cả hệ thống ngân hàng. Sự đổ vỡ của 1 ngân hàng có thể kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống. Bốn là hoạt động kinh doanh ngân hàng có tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới toàn bộ nền kinh tế bởi vì ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán các NHTM còn cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác nhƣ dịch vụ tƣ vấn tài chính, tƣ vấn đầu tƣ, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới mua bán và lƣu ký chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ, và các nghiệp vụ phái sinh cho nền kinh tế. và cung cấp thêm các dịch vụ mới nhƣ dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ quản lý mua bán nợ, dịch vụ quản lý tài sản, dịch vụ kinh doanh địa ốc, các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhƣ MobileBanking, InternetBanking, E-Banking,.
Chính vì vậy chất lƣợng của các dịch vụ ngân hàng ảnh hƣởng rất lớn và mang tính chất quyết định tới hoạt động của nền kinh tế. b) Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM Trong lĩnh vực ngân hàng, dƣới các góc độ hoạt động cơ bản, các lĩnh vực cạnh tranh chính của NHTM đƣợc phân loại nhƣ sau: - Cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn. - Cạnh tranh trong lĩnh vực sử dụng vốn. - Cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ trung gian của Ngân hàng.TS Nguyễn Thị Quy thì “NLCT của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị 8 z phần; đạt đƣợc mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vƣợt qua những biến động bất lợi của môi trƣờng kinh doanh” [07, tr.