Phần mở đầu". Chương 2 trình bày phương pháp mà các nhà kinh tế sử dụng để xác định các biến số kinh tế như tổng thu nhập, tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp. Phần II với tiêu đề "Nền kinh tế trong dài hạn" trình bày mô hình cổ điển về nền kinh tế. Đặc trưng then chốt của mô hình cổ điển là ở chỗ nó giả định giá cả diều chỉnh để cân bằng thị trường, trừ một vài trường hợp ngoại lệ; nghĩa là, nó giả định thị trường cân bằng.
Vì những lý do đã trình bày ở trên, tốt nhất giả định này nên được coi là giả dịnh mô tả nền kinh tế trong dài hạn. Phần HI, phần bàn về "Nền kinh tế trong ngắn hạn" xem xét biểu hiện của nền kinh tế khi giá cả cứng nhắc. Nó trình bày mô hình bất cân bằng thị trường về nền kinh tế 21 và chỉ ra cách thức thay đổi những kết luận của mô hình cổ điển khi tính đến tính cứng nhắc của giá cả. Mô hình giá cả cứng nhắc được lập ra để nghiên cứu nhữn¿; vấn đề ngấn hạn, chẳng hạn nguyên nhân gây ra các biến động kinh tế và vai.
trò của chính Sách tài chính, tiền tệ trong việc tạo ra sự ổn định của nền kinh tế. Chương cuối cùng của phần III trình bày các quan điểm khác nhau về biến động kinh tế. Nó xem xét lý thuyết "cổ điển mới", một lý thuyết tìm cách lý giải nền kinh tế trong ngắn han ma khong can sit dung gia định giá cả cứng nhắc. Phương pháp tiếp cận này hoàn toàn đối lập với quan điểm được hầu hết các nhà kính tế ủng hộ là: việc giá cả thất bại trong việc cân bằng cung cầu có ý nghĩa co bản đối với vấn đề lý giải những biến động kinh tế ngắn hạn.
Phần IV đề cập đến "Một số vấn đề bồ sung về kinh tế vi mô làm cơ sở cho kinh tế vĩ mô". Nó tập trung vào một số mô hình kinh tế vi mô hữu ích đối với quá trình phân tích các vấn đề kinh tế vĩ mô. Ví dụ, nó phân tích các quyết định của hộ gia đình trên phương diện cách thức đưa ra quyết định tiêu dùng và giữ tiền, cũng như các quyết định của doanh nghiệp về đầu tư. Những q nh cá biệt cùng nhau tạo ra bức tranh kinh tế vĩ mô lớn hơn.
Mục tiêu của việc nghiên cứu các quyết định kinh tế vi mô một cách chỉ tiết là để hoàn chỉnh nhận thức của chúng ta về nền kinh tế tổng hợp. Kinh tế vĩ mô là bộ môn nghiên cứu nền kinh tế với tư cách một tổng thể, bao gồm sự tăng trưởng của thu nhập, thay đổi giá cả và tỷ lệ thất nghiệp. Các nhà kinh tế vĩ mô vừa tìm cách lý giải các biến cố kinh tế, vừa nêu ra các chính sách để cải thiện kết quả hoạt động của nền kinh tế. Để hiểu được nền kinh tế, các nhà kinh tế sử dụng các mô hình - tức những lý thuyết đơn gi n hóa hiện thực để chỉ ra phương thức tác động của biến số ngoại sinh đối với biến số nội sinh.
Nghệ thuật của kinh tế học là đánh giá xem liệu một mô hình có nắm bắt được đúng các. mối quan hệ kinh tế không. Vì không có mô hình nào giải đáp được mọi vấn đề, các nhà kinh tế Vĩ mô sử dụng các mô hình khác nhau phục vụ cho những mục đích khác nhau. Vấn đề giá có linh hoạt không hay nó có tính cứng nhấc là một giả định cơ bản đối với mô hình kinh tế vĩ mô.
Hầu hết các nhà kinh tế vĩ mô đều tin rằng mô hình cân bằng thị trường mô tả nền kinh tế trong dài hạn, nhưng giá cả cứng nhắc trong ngắn hạn. Kinh tế vi mỡ là bộ môn nghiên cứu phương thức ra quyết định của các hộ gia đình và doanh nghiệp, cũng như tác động qua lại giữa những chủ thể ra quyết định này. Vì các biến cố kinh tế vĩ mô phát sinh từ nhiều tác động qua lại có tính chất vi mô, cho nên các nhà kinh tế vĩ mô sử dụng nhiều công cụ của môn kinh tế vi mô. 22 Những khái niệm cơ bản Kinh tế vĩ mô GDP thực tế Lạm phát và giảm phát Thất nghiệp Suy thoái ˆ Khủng hoảng Mô hình Các biến số nội sinh và ngoại sinh Giá cả linh hoạt và cứng nhắc Kinh tế vi mô Cân bằng thị trường Câu hỏi ôn tập 1.
Giải thích sự khác nhau giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Hai lĩnh vực này có quan hệ với nhau nh* (:Š nào? ` 2. Tại sao các nhà kinh tế lại lập ra các mô hình? 3. Mô hình cân bằng thị trường là gì? Khi nào giả định cân bằng thị trường được coi là thích hợp ? Bài tập và vận dụng I.
Gần đây nhất có những vấn đề kinh tế vĩ mô nào? Theo bạn những đặc trưng đóng vai trò quyết dịnh của một bộ môn khoa học là gì? Lĩnh vực nghiên cứu nền kinh tế có những đặc trưng đó không? Bạn có nghĩ ràng uên gọi khoa kinh tế vĩ mô là một khoa học không? Tại sao nên và tại sao wv không nên? / 3. Giá bạn trả khi cất-tóc có thay đổi thường xuyên không? Câu trả đời của bạn có hàm ý gì đối với tác dụng của các mô hình cân bằng thị trường đối với quá trình phân tích thị trường cắt tóc? CHƯƠNG 2 SỐ LIỆU KINH TẾ VĨ MÔ Chưa có sở liệu mà đã lý luận là một sai lầm lớn. Người ta sẽ vô tình bóp méo thực tế nhằm làm cho nó phù hợp với lý luận, trong khi đáng lẽ lý luận phải phù hợp với thực tế. Sê-lốc Hôm Giống như tất cả các nhà khoa học, các nhà kinh tế vừa dựa vào lỷ thuyết, vừa dựa vào kết quả quan sát.
Vì mục tiêu của chúng ta là tìm hiểu phương thức hoạt động của nền kinh tế, cho nên hoạt động quan sát nền kinh tế tạo ra cơ sở cho lý thuyết của chúng ta. Khi đã hình thành được những lý thuyết như vậy, chúng ta lại quay về với kết quả quan sát để kiểm định chúng. Chương này trình bày các loại kết quả quan sát mà nhà kinh tế vĩ mô sử dụng để xây dựng và kiểm định lý thuyết của mình. Những kết quả quan sát vô tình là một nguồn thông tin về nền kinh tế.
Khi đi mua hàng, bạn nhận thấy giá cả tăng nhanh đến mức nào. Khi tìm kiếm việc làm, bạn biết được rằng các doanh nghiệp có thuê nhân công không. Vì tất cả chúng ta đều là những người tham gia vào nền kinh tế, cho nên trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều cảm nhận được tình hình kinh tế ở mức độ nào đó. Thống kê kinh tế là một nguồn thông tin có hệ thống hơn, khách quan hơn.
Chính phủ thường xuyên tiến hành điều tra các hộ gia đình và doanh nghiệp để tìm hiểu về hoạt động kinh tế của họ, chẳng hạn như hiện tại họ thu được bao nhiêu, mua cái gì và định giá cả ra sao v. Từ những cuộc điều tra này, người ta tính được nhiều chỉ tiêu thống ke phan ánh thực trạng của nền kinh tế. Day là những số liệu mà các nhà kinh tế sử dụng để nghiên cứu nền kinh tế. Chúng cũng giúp cho các nhà hoạch định chính sách giám sát quá trình phát triển kinh tế và soạn thảo những chính sách kinh tế thích hợp.
24 Chương này tập trung vào 3 chỉ tiêu thống kê kinh tế quan trọng được các nhà kinh tế và hoạch định chinh sách sử dụng nhiều nhất. Tổng sản phẩm trong nước hay GDP cho chúng ta biết về tổng thu nhập của một nước và tổng mức chỉ tiêu để mưa sản lượng, hàng hóa và dịch vụ của nó. Chỉ số giá tiều dùng phản ánh mức giá. Tý lệ thất nghiệp cho chúng ta biết tỷ trọng công nhân bị thất nghiệp.
Dưới đây chúng ta sẽ thấy những chỉ tiêu thống kê này được tính toán như thế nào và ý nghĩa của chúng ra sao. Phan ánh giá trị của hoạt động kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước Tổng sản phẩm trong nước (GDP) thường được coi là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh tế. Chỉ tiêu thống kê này, loại số liệu được Bộ Thương mại Mỹ tính toán ba tháng một lần, được sử dụng để tổng kết giá trị bằng tiền của hoạt động kinh tế dưới hình thức một con số duy nhất. Nói một cách chính xác hơn, GDP bằng:.
* Tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và *'Tổng chỉ tiêu để mua sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kin:: tế. GĐP là thước đo thành tựu kinh tế, vì nó phản ánh cái mà mọi người quan tâm - đó là thu nhập của họ. Tương tự, nền kinh tế có sản lượng hàng hóa và dịch vụ lớn có thể thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. GDP phản ánh cả thu nhập của nền kinh tế và mức chỉ trêu để mua sản lượng của nó, bởi vì hai đại lượng này thực ra chỉ là một: đối với nền kinh tế với tư cách một tổng thể, thu nhập phải bằng chỉ tiêu.
Để hiểu tại sao lại như vậy, chúng ta phải tìm hiểu hệ thống hạch toán thu nhập quốc đán - hệ thống hạch toán được sử dụng để tính GDP và nhiều chỉ tiêu thống kê có liên quan. Thu nhập, chỉ tiêu và vòng chu chuyển Chúng ta hãy hình dung một nền kinh tế chỉ sản xuất một loại hàng hóa duy nhất. là bánh mỳ từ một đầu vào duy nhất là lao dong. Hinh 2-1 minh họa tất cả các giao dịch kinh tế xảy ra giữa hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế này.
Nhánh trong èủa hình 2-1 biểu thị lưông chu chuyển của bánh mỳ và lao động. Hộ gia đình bán lao động cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng lao động của công nhân để sản xuất bánh mỳ, sau đó bán cho hộ gia đình. Bởi vậy, lưỡng lao động chảy từ hộ gia đình sang doanh nghiệp và lường bánh mỳ chảy từ doanh nghiệp sang hộ gia đình.
25 Thu nhập (đô la) Lao động Hộ gia đình —>— Hàng hóa (bánh mỳ) Chỉ tiêu (đô la) Ỉ Doanh nghiệp —> Hình 2-1. Vòng chủ chuyển - Nình này minh họa các luồng chi chuyển giữa doanh n ghiệp và hộ gia đình trong nền kinh tế chỉ sản xuất một loại hàng hóa là bánh mỳ bằng một loại đầu vào duy nhất là lao động.