Chương 1 giới thiệu chủ đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, xác định rõ mục tiêu nghiên cứu. 2) Chương 2 cung cấp các lý thuyết nền tảng cùng các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. 3) Chương 3 mô tả phương pháp ARDL và dữ liệu nghiên cứu. 4) Chương 4 trình bày các kết quả thực nghiệm 5) Chương 5 cung cấp các kết luận.
5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 2. Các lý thuyết nền tảng liên quan 2. Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại Tác động của cú sốc giá dầu lên tài khoản đối ngoại (external account) của một nền kinh tế hoạt động thông qua 2 kênh chính là kênh thương mại (trade channel) và kênh tài chính (financial channel). Kênh thương mại hoạt động thông qua những thay đổi về số lượng và giá cả hàng hóa trao đổi trong khi kênh tài chính hoạt động thông qua thay đổi vị thế danh mục đầu tư đối ngoại và giá tài sản (Kilian và cộng sự, 2009).
Nghiên cứu này tập trung vào trình bày kênh thương mại và thảo luận về các cơ chế theo đó giá dầu dự kiến sẽ thúc đẩy cán cân thương mại. Cú sốc giá dầu có tác động kinh tế trực tiếp và gián tiếp lên cả nền kinh tế nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Tác động gián tiếp là việc truyền dẫn cú sốc thông qua thương mại quốc tế. Đầu tiên, giá dầu thế giới tăng thường được cho là mang lại áp lực lạm phát và gia tăng giá cả tại các quốc gia đối tác thương mại.
Điều này đến lượt làm tăng giá nhập khẩu trong nước ở cả nền kinh tế nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Cơ quan tiền tệ của các nền kinh tế đối tác thương mại có thể tăng lãi suất trong nỗ lực kiềm chế lạm phát, dẫn đến giảm tiêu dùng, đầu tư và do đó hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế. Điều này đến lượt làm giảm nhu cầu đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu từ nền kinh tế trong nước của cả quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Đối với nền kinh tế xuất khẩu dầu ròng, tác động trực tiếp của cú sốc tăng giá dầu thế giới được dự kiến là dương (tích cực), xuất phát từ gia tăng doanh thu xuất khẩu.
Tuy nhiên, các tác động gián tiếp được dự kiến là âm (tiêu cực). Đầu tiên, như đã đề cập, giá dầu toàn cầu tăng làm tăng giá nhập khẩu trong nước ở cả quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dầu. Thứ hai, sự gia tăng ngoại sinh của giá dầu thế giới tạo ra cú sốc cung cho các quốc gia nhập khẩu dầu ròng, dẫn đến sự hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế trong nước của quốc gia nhập khẩu dầu ròng và làm giảm xuất khẩu dầu và xuất khẩu khác từ các quốc gia xuất khẩu dầu. Vì thế, lợi ích cho nền kinh tế 6 xuất khẩu dầu không lớn như chúng ta nghĩ.
Tác động ròng của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại của nền kinh tế xuất khẩu dầu phụ thuộc vào độ lớn của doanh thu xuất khẩu dầu cao so với giá nhập khẩu tăng. Lập luận này củng cố mối quan tâm chung rằng biến động lớn của giá dầu thế giới không chỉ mang lại tác động bất lợi cho nền kinh tế nhập khẩu dầu mà còn đặt ra thách thức cho các nhà hoạch định chính sách trong các nền kinh tế xuất khẩu dầu. Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu, doanh thu từ dầu đặt ra những thách thức tài khóa xuất phát từ thực tế là dầu thô đang dần cạn kiệt, dễ bốc hơi và phần lớn phụ thuộc vào cầu từ bên ngoài. Tăng giá dầu có thể gây thêm bất ổn, đặc biệt đối với những nền kinh tế rủi ro như các thị trường mới nổi.
Tài khoản vốn cũng có thể chịu ảnh hưởng bất lợi do sự suy giảm danh mục đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp vào trong nước, hoặc thậm chí là một cú cất cánh vốn (capital flight). Do đó, mặc dù giá dầu toàn cầu tăng vọt nên được coi là có lợi đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ròng và gây bất lợi đối với các quốc gia nhập khẩu dầu ròng, nhưng thực tế không đơn giản. Đành rằng, các nền kinh tế xuất khẩu dầu ròng vẫn có thể được hưởng lợi từ giá dầu cao hơn nhờ khả năng cải thiện tỷ lệ trao đổi TOT và tăng doanh thu xuất khẩu dầu, có thể được sử dụng cho cả tiêu dùng và đầu tư (Korhonen và Ledyaeva, 2010). Đối với nền kinh tế nhập khẩu dầu ròng, sự gia tăng ngoại sinh trong giá dầu thô nhập khẩu thường được coi là cú sốc tỷ lệ trao đổi TOT tiêu cực thông qua các tác động của chúng lên các quyết định sản xuất (xem, Backus và Crucini, 2000; Kim và Loungani, 1992).
Dầu nhập khẩu được coi là đầu vào trung gian trong sản xuất trong nước và do đó, giá dầu tăng dẫn đến sự gia tăng trực tiếp chi phí đầu vào và dẫn đến giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực. Các doanh nghiệp và hộ gia đình sẽ phải cắt giảm kế hoạch chi tiêu và đầu tư. Sản lượng thực giảm ít nhất là tạm thời trong các nền kinh tế nhập khẩu dầu. Nền kinh tế trong nước của các quốc gia nhập khẩu dầu ròng sẽ sản xuất ít hơn và do đó xuất khẩu ít hơn, nhưng có thể không tiêu thụ tương ứng ít sản phẩm nhập khẩu.
Tác động của việc tăng giá ngoại sinh lên cán cân thương mại chung của các quốc gia nhập khẩu dầu ròng dự kiến sẽ là tiêu cực.1 trình bày khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại của một quốc gia. Theo đó, giá dầu tăng sẽ góp phần làm tăng giá năng lượng dẫn đến tăng chi phí sản xuất. Sự tăng giá của hàng hóa nông nghiệp và công nghiệp dẫn đến thu nhập quốc gia giảm theo cấp số nhân (phụ thuộc vào hệ số nhân). Kết quả là giá nhập khẩu sẽ tăng (chủ yếu do biến động tỷ giá), có thể gây ra sự mất cân bằng thương mại, tạo ra nhiều hệ lụy vĩ mô, chủ yếu là khủng hoảng tài chính toàn cầu; lạm phát và thất nghiệp làm giảm chất lượng sống của người dân; nền kinh tế phát triển không bền vững (Hassan và Zaman, 2012).
Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại 2. Điều kiện Marshall-Lerner Về mặt lý thuyết, tỷ giá hối đoái có tác động đến cán cân thương mại. Một trong các cách để chứng minh liên kết này là thảo luận điều kiện Marshall-Lerner (điều kiện ML). Độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu không chỉ quan trọng trong việc xác định tỷ lệ trao đổi TOT của một quốc gia, tác động lên hạn ngạch và thuế quan, và tác động đến tăng trưởng kinh tế mà còn đóng vai trò chính trong việc đánh giá tác động của sự phá giá (định giá thấp) tiền tệ trong việc cải thiện vị thế cán cân thương mại của nền kinh tế.
Phá giá tiền tệ chủ yếu nhằm mục đích thay đổi giá cả tương đối, từ đó khuyến khích xuất khẩu và không khuyến khích nhập khẩu. Phá giá là sự gia tăng có chủ ý của đồng nội tệ so với ngoại tệ, do đó làm tăng giá nhập khẩu trong nước. Tuy nhiên, liên quan đến mức tăng của giá cả trong nước, hiệu ứng chỉ phụ thuộc vào độ co giãn cầu. Cụ thể, khi độ co giãn cầu cao hơn 1, khi đó sự mất giá sẽ gây ra sự sụt giảm tương đối lớn khối lượng nhập khẩu trong nền kinh tế và sẽ đạt được hiệu quả như mong muốn.
Ngược lại, nếu độ co giãn thấp hơn 1, mặc dù mất giá sẽ gây ra một số mức giảm trong nhập khẩu, khối lượng giảm có thể không đủ để bù đắp cho sự tăng giá của đồng nội tệ. Do đó, để đạt được hiệu quả như mong muốn, là cải thiện cán cân thương mại, độ co giãn cầu phải tương đối cao. 8 Cú sốc giá dầu Khủng hoảng kinh tế Giá năng lượng tăng Mất cân bằng Phát triển không thương mại bền vững Sản xuất nông nghiệp giảm Giá đầu vào Sản xuất của nền Lỗ hổng sản lượng Chất lượng cuộc tăng kinh tế giảm tăng sống giảm Sản xuất công nghiệp giảm GDP giảm Chi phí nhập khẩu Thâm hụt thương tăng mại Nguồn: Sắp xếp lại của tác giả từ nghiên cứu của Hassan và Zaman (2012). Khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại.
9 Hơn nữa, độ co giãn còn phụ thuộc vào mức độ của hiệu ứng thay thế (substitution effect) và thu nhập (income effect). Liên quan hiệu ứng thay thế, nếu khối lượng thay thế hàng nhập khẩu trong thị trường nội địa tương đối lớn, thì hiệu ứng thay thế sẽ mạnh mẽ, hàm ý sự sụt giảm lớn trong nhập khẩu. Ngược lại, nếu nhập khẩu trong nước chủ yếu để tạo ra nhu yếu phẩm, trong nước có ít hoặc không có sản phẩm thay thế, thì hiệu ứng thay thế đối với hàng nhập khẩu sẽ tương đối nhỏ, hàm ý triển vọng kém của mục đích phá giá. Đôi khi, những trường hợp như vậy được xác nhận ở các quốc gia đang phát triển, kể cả các quốc gia phát triển như Pháp, Nhật Bản, Đức và Mỹ, khi không có sản phẩm thay thế cho một số hàng hóa nhập khẩu chính như dầu mỏ (Dunn và Mutii, 2000).
Mặt khác, hiệu ứng thu nhập được coi là mạnh hơn nếu nhập khẩu chiếm phần đáng kể trong ngân sách trung bình của một công dân. Đây là lý do tại sao phá giá không phổ biến trong tình huống này. Khi phá giá làm cho giá của hàng hóa trong nước như nhiên liệu và thực phẩm trong ngân sách của người tiêu dùng tăng lên, làm cho thu nhập thực giảm và do đó làm giảm việc mua hàng hóa khác bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu. Cùng với xuất khẩu, sự mất giá của đồng nội tệ sẽ gây ra cả việc giảm giá cả ngoại tệ và tăng giá cả nội tệ, với độ co giãn tương đối của cung và cầu quyết định kết quả.
Trong tình huống giá nội tệ của xuất khẩu không đổi, hàm ý hàm cung co giãn vô hạn, vì giá cả ngoại tệ giảm do phá giá, do đó khiến người nước ngoài phải mua thêm hàng xuất khẩu trong nước. Ngược lại, nếu giá ngoại tệ của xuất khẩu không đổi, hàm ý cầu nước ngoài co giãn vô hạn đối với hàng hóa đó, giá nội tệ của xuất khẩu tăng (kết quả từ phá giá) và do đó sẽ làm tăng xuất khẩu trong nước trên thị trường quốc tế.