Chương 1: Giới thiệu. Trong chương này, tác giả giới thiệu chung về nghiên cứu trình bày lý do, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này, tác giả trình bày các lý thuyết nền tảng và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô của các quốc gia.
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, mô tả cụ thể nguồn thu thập số liệu cũng như mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả Phân tích thực nghiệm. Trong chương này, tác giả trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu đã đạt được, so sánh kết quả với các nghiên cứu trước đó để rút ra kết luận.
Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả trình bày những kết luận của bài nghiên cứu; một số hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trong chương hai, tác giả tập trung thảo luận các lý thuyết nền tảng cho thấy có tồn tại các cú sốc khác nhau trong giá dầu, các cú sốc có vai trò thế nào trong sự biến động của giá dầuvà các cú sốc này sẽ tác động đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế theo một chu trình như thế nào. Chương này cũng điểm lại một số nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả khác trên thế giới từ trước đến nay.1 Các loại cú sốc giá dầu Theo quan điểm của Kilian (2009),tồn tại ba cú sốc khác nhau trong giá dầu, ảnh hưởng đến sự biến động của giá dầu, bao gồm cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply shocks), cú sốc từ tổng nhu cầu dầu (aggregate demand shocks); và những cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu (oil market specific demand shocks /precautionary demand shocks).
Để tìm hiểu xem giá trị thực của dầu được quyết định bởi yếu tố nào, Kilian (2009) sử dụng một vector tự hồi quy (VAR) với ba biến, nguồn cung dầu, giá thực tế của dầu và một biến trung gian đại diện cho nhu cầu toàn cầu đối với các mặt hàng công nghiệp. Với tác dụng đo lường hoạt động kinh tế toàn cầu thực sự, Kilian (2009) xác định, dựa trên một cấu trúc đệ quy, ba cú sốc giá dầu bao gồm: một cú sốc từ nguồn cung cấp dầu, một cú sốc dầu cụ thể thị trường và một cú sốc nhu cầu toàn cầu. Kilian (2009) đã chỉ ra, cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi trong giá dầu. Tiếp theo đó là giá dầu chịu ảnh hưởng của cú sốc tổng nhu cầu dầu và cuối cùng là chịu ảnh hưởng của cú sốc phát sinh do nguồn cung dầu mỏ.
Như vậy, có ba nhân tố góp phần tạo nên sự thay đổi trong giá dầu. Thứ nhất, cú sốc từ nguồn cung dầu. Cú sốc nguồn cung dầu chính là sự sụt giảm trong ngắn hạn trong việc cung ứng dầu mỏ của những nước xuất khẩu dầu mỏ, chẳng hạn xuất hiện những mâu thuẫn chính trị hay thay đổi trong hạn ngạch xuất khẩu của khối OPEC (Cunado và các cộng sự, 2015). Khi xảy ra sự sụt giảm nguồn cung dầu sẽ khiến cho giá dầu thay đổi theo chiều hướng tăng.
Khi giá dầu đã tăng thì sẽ gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế trễ hơn sau đó. 9 Thứ hai, cú sốc từ tổng nhu cầu dầu mỏ.Khi nền kinh tế mở rộng, nhu cầu dầu mỏ có xu hướng tăng, thúc đẩy giá dầu tăng. Tiếp sau đó, khi giá dầu tăng thì lại làm chotổng nhu cầu dầu mỏ thay đổi theo chiều hướng giảm. Khi nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ sụt giảm sẽ tạo ra áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới (Kilian, 2009).
Thứ ba, cú sốc phòng ngừa. Đây chính là những cú sốc phát sinh từ nhu cầu phòng ngừa. Khi những nhà cung cấp dầu mỏ dự báo rằngnhu cầu tiêu thụ dầu giảm, sẽ cắt giảm nguồn cung dầu. Còn đối với những người có nhu cầu sử dụng dầu mỏ trong tương lai sẽ lo sợ gánh chịu tổn thất từ sự sụt giảm nguồn cung, từ đó sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa.
Có nghĩa rằng, khi thị trường không chắc chắn về nguồn cung dầu hay nguồn cầu dầu sắp tới, sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa cho những điều thay đổi không chắc chắn này. Vì vậy, cú sốc có nguồn gốc từ nhu cầu phòng ngừa về sự không chắc chắn trong nguồn cung dầu ở tương lai. Hay nói cách khác cú sốc phòng ngừa về bản chất cũng bắt nguồn từ sự thay đổi nguồn cung dầu, nhưng ở tương lai. Tiếp đến, trong nghiên cứu được công bố vào năm 2011, bằng việc sử dụng mô hình Bayesian VAR, Baumeister và các cộng sự đã chứng mình rằng sự gia tăng trong giá dầu là do nguồn cung dầu sụt giảm và sự gia tăng nhu cầu dầu mỏ trong ngắn hạn.
Gần đây nhất, Kilian (2015) cho thấy, cú sốc từ nguồn cung dầu phát sinh, trước tiên sẽ làm giá dầu tăng, sau đó trễ hơn việc giá dầu tăng sẽ gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế (làm sụt giảm nhu cầu dầu mỏ cho sản xuất). Từ những lập luận trên có thể thấy, mặc dù có ba cú sốc khác nhau ảnh hưởng đến sự thay đổi trong giá dầu, nhưng nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của các quốc gia là từ sự thay đổi trong nguồn cung dầu mỏ (Kilian, 2015).2 tiếp theo sau, tác giả sẽ trình bày sự truyền dẫn của các cú sốc giá dầu đến nền kinh tế của các quốc gia.2Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô Như thảo luận ở phần 2.1, giá dầu thay đổi theo chiều hướng tăng do ảnh hưởng từ cú sốc nguồn cung dầu (oil supply shocks), hoặc nhu cầu dầu mỏ (aggregate demand shocks). Khi giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với các chỉ số vĩ mô khác của nền kinh tế? Cụ thể, dựa theo nghiên cứu của Cunado và các cộng sự (2015), các biến được chọn làm đại diện cho nền kinh tế vĩ mô trong nghiên cứu bao gồm: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ giá hối đoái (EX), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lãi suất chiết khấu (DR). Theo Cunado và các cộng sự (2015), Tang và cộng sự (2010), bốn biến này được chọn để đại diện cho nền kinh tế vĩ mô là vì: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế sẽ thể hiện qua sự tăng trưởng sản lượng, hay đó chính là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) - Áp lực lạm phát: đại diện cho sự biến động giá cả của nền kinh tế, thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
- Tỷ giá hối đoái (EX) thể hiện sự lưu chuyển dòng vốn giữa các nền kinh tế - Chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát được phân tích dựa trên sự biến động của lãi suất chiết khấu (DR) Như vậy, cũng dựa trên nghiên cứu của Tang và cộng sự (2010), mối liên hệ sữ giá dầu và các biến kinh tế vĩ mô sẽ được mô tả một cách tổng quát theo sơ dồ 2.1 và sáu kênh truyền dẫn được trình bày chi tiết bên dưới, bao gồm Ảnh hưởng của cú sốc cung dầu, Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu, Áp lực lạm phát, Hiệu ứng cân bằng thực, Cú sốc giá dầu và ảnh hưởng bất đối xứng và Hiệu ứng ngoài kỳ vọng. Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô Nguồn: Nghiên cứu của Tang và cộng sự (2010),Nguyễn Thị Liên Hoa (2012) Dựa theo nghiên cứu của Brown và Yücel (2002), Tang và cộng sự (2010) chỉ ra giá dầu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô theo sáu kênh truyền dẫn chính như sau: - Ảnh hưởng của cú sốc cung dầu (A Classic Supply-Side Shock): ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng đầu ra vì cú sốc nguồn cung làm giá dầu thay đổi, từ đó chi phí sản xuất biên cũng thay đổi theo (Tang và các cộng sự, 2010). Đó chính là cú sốc cung dầu. Cụ thể hơn, sự tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo từ một cú sốc trong tổng nguồn cung dầu.
Sự tăng giá chính là báo hiệu cho sự khan hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của sản xuất. Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất của các ngành công nghiệp sẽ sụt giảm. Điều này dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp (Brown và Yule, 2002). Tiếp đến, nếu người tiêu dùng kỳ vọng rằng việc tăng giá dầu chỉ là tạm thời và trong dài hạn sẽ ảnh hưởng mạnh đến sản lượng đầu ra, họ sẽ có khuynh hướng hạn chế tiết kiệm và gia tăng vay mượn, điều này làm lãi suất tăng.
12 Như vậy,giá dầu tăng do cú sốc từ nguồn cung dầu, sẽ làm giảm sự tăng trưởng GDP, tức gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế và tăng lãi suất thực trong dài hạn (Brown và Yule, 2002). - Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu (Income Transfers and Aggregate Demand) Trong nghiên cứu của Fried và Schulze (1975); Dohner (1981) đề cập, sự tăng giá dầu sẽ chuyển giao thu nhập từ các nước nhập khẩu dầu thô sang các nước xuất khẩu dầu thô, điều này làm giảm cầu tiêu dùng ở nước nhập khẩu và tăng cầu ở nước xuất khẩu, tuy nhiên mức độ tăng lại ít hơn, từ đó làm tổng cầu của cả thế giới đối với sản phẩm của nước nhập khẩu giảm, làm tăng cung tiết kiệm. Cung tiết kiệm tăng gây áp lực giảm lãi suất thực và mức giảm này có thể lấn át mức tăng lãi suất thực do người tiêu dùng ổn định chi tiêu. Lãi suất giảm sẽ kích thích đầu tư, điều này sẽ bù đắp cho mức giảm trong tiêu dùng, vì vậy tổng cầu không thay đổi ở các nước nhập khẩu dầu thô.
Tuy nhiên, nếu giá cả khó điều chỉnh giảm, sự sụt giảm trong tiêu dùng hàng hóa sản xuất ở những nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm tăng trưởng GDP giảm hơn nữa. Tiêu dùng giảm sẽ tạo áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới. Mặt khác, nếu giá dầu tăng cung nội tệ tại nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ có xu hướng tăng, điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến tỷ giáhối đoái danh nghĩa tại nước nhập khẩu dầu mỏ.