BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH ----- TRẦN THU GIANG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC BÊN NGOÀI ĐẾN CÁC NỀN KINH TẾ ĐÔNG Á Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013 MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT. 1 DANH MỤC BẢNG. 2 DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.
Tác động của những cú sốc bên ngoài đến nền kinh tế. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các cú sốc bên ngoài đến nền kinh tế. Tác động của các cú sốc bên ngoài đến những nền kinh tế phát triển. Tác động của các cú sốc bên ngoài đến những nền kinh tế mới nổi.
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Mô tả dữ liệu. Phương pháp nghiên cứu. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Kết quả nghiên cứu đối với Việt Nam. Kiểm định tính dừng và xác định độ trễ tối ưu. Tầm quan trọng của các cú sốc bên ngoài đối với sự biến động của các chỉ số kinh tế vĩ mô Việt Nam. Tác động của các cú sốc bên ngoài đến các biến kinh tế vĩ mô Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu đối với 6 quốc gia Đông Á. Kiểm định tính dừng và xác định độ trễ tối ưu. Tầm quan trọng của các cú sốc bên ngoài đối với sự biến động của các chỉ số kinh tế vĩ mô trong nước. Tác động của các cú sốc bên ngoài đến các biến kinh tế vĩ mô trong nước.
Sự tương quan trong phản ứng của các biến kinh tế vĩ mô đối với cú sốc từ bên ngoài. Sự tương quan trong phản ứng của sản lượng. Sự tương quan trong phản ứng của tỷ giá. Sự tương quan trong phản ứng của giá tiêu dùng.
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ. 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 52 1 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index) GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) FED Cục dự trữ liên bang Mỹ (The Federal Reserve) IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) MSCI Chỉ số tổng hợp về thị trường chứng khoán các nước do Morgan Stanley xây dựng (Morgan Stanley Capital International) SVAR Mô hình véc tơ tự hồi quy cấu trúc (Structural Vector Autoregressive Regression) USD Đô la Mỹ VAR Véc tơ tự hồi quy (Vector Autoregressive Regression) VND Đồng Việt Nam 2 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Vai trò của các nền kinh tế lớn trong nền kinh tế toàn cầu Bảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình Bảng 4.1: Kết quả kiểm định tính dừng trên chuỗi gốc Bảng 4.2: Kết quả kiểm định tính dừng trên chuỗi sai phân bậc 1 Bảng 4.3: Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu Bảng 4.4: Kết quả phân rã phương sai của biến kinh tế vĩ mô trong nước Bảng 4.5: Kết quả phân rã phương sai của sản lượng các nước Đông Á Bảng 4.6: Kết quả phân rã phương sai của tỷ giá các nước Đông Á Bảng 4.7: Kết quả phân rã phương sai của chỉ số giá tiêu dùng các nước Đông Á Bảng 4.8: Hệ số tương quan trong phản ứng của sản lượng trong nước đối với cú sốc giá dầu Bảng 4.9: Hệ số tương quan trong phản ứng của sản lượng trong nước đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Bảng 4.10: Hệ số tương quan trong phản ứng của sản lượng trong nước đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Bảng 4.11: Hệ số tương quan trong phản ứng của tỷ giá đối với cú sốc giá dầu Bảng 4.12: Hệ số tương quan trong phản ứng của tỷ giá đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Bảng 4.13: Hệ số tương quan trong phản ứng của tỷ giá đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Bảng 4.14: Hệ số tương quan trong phản ứng của giá tiêu dùng đối với cú sốc giá dầu Bảng 4.15: Hệ số tương quan trong phản ứng của giá tiêu dùng đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Bảng 4.16: Hệ số tương quan trong phản ứng của giá tiêu dùng đối với cú sốc lãi suất của Mỹ 3 DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ Hình 2.1: Tác động của giá dầu đến nền kinh tế Hình 4.1: Tỷ giá USD/VND giai đoạn 2001 – 2012 Hình 4.2: Chỉ số sản xuất công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 – 2012 (2005=100) Hình 4.3: Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam giai đoạn 2001 – 2012 (2005=100 ) Hình 4.4: Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình ở Việt Nam Hình 4.5: Phản ứng của sản lượng Việt Nam đối với cú sốc giá dầu Hình 4.6: Phản ứng của sản lượng Việt Nam đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Hình 4.7: Phản ứng của sản lượng Việt Nam đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Hình 4.8: Phản ứng của tỷ giá Việt Nam đối với cú sốc giá dầu Hình 4.9: Phản ứng của tỷ giá Việt Nam đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Hình 4.10: Phản ứng của tỷ giá Việt Nam đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Hình 4.11: Phản ứng của giá tiêu dùng Việt Nam đối với cú sốc giá dầu Hình 4.12: Phản ứng của giá tiêu dùng Việt Nam đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Hình 4.13: Phản ứng của giá tiêu dùng Việt Nam đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Hình 4.14: Phản ứng của sản lượng các nước đối với cú sốc giá dầu Hình 4.15: Phản ứng của sản lượng các nước đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Hình 4.16: Phản ứng của tỷ giá các nước đối với cú sốc giá dầu Hình 4.17: Phản ứng của tỷ giá các nước đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Hình 4.18: Phản ứng của tỷ giá các nước đối với cú sốc lãi suất của Mỹ Hình 4.19: Phản ứng của giá tiêu dùng các nước đối với cú sốc giá dầu Hình 4.20: Phản ứng của giá tiêu dùng các nước đối với cú sốc sản lượng của Mỹ Hình 4.21: Phản ứng của giá tiêu dùng các nước đối với cú sốc lãi suất của Mỹ 4 TÓM TẮT Trong bài nghiên cứu này tác giả kiểm định tác động các cú sốc bên ngoài, bao gồm cú sốc giá dầu, cú sốc sản lượng của Mỹ, và cú sốc lãi suất của Mỹ đối với các biến kinh tế vĩ mô nội địa của Việt Nam và các nền kinh tế Đông Á. Sau đó tác giả xem xét liệu những cú sốc này có dẫn đến các phản ứng giống nhau giữa các nước này hay không.
Tác giả sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy cấu trúc (SVAR) phân tích bộ dữ liệu của các biến vĩ mô giai đoạn 2001 – 2012 của nhóm 7 nước Đông Á bao gồm Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy cú sốc giá dầu và cú sốc lãi suất của Mỹ có vai trò quan trọng hơn cú sốc sản lượng trong việc giải thích sự biến động của các biến kinh tế vĩ mô nội địa. Đồng thời, tác giả cũng nhận thấy mức độ tương quan cao trong phản ứng của các quốc gia trong mẫu đối với các cú sốc bên ngoài. GIỚI THIỆU Trong ba thập kỷ vừa qua, mức độ toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên sâu rộng.
Quá tình toàn cầu hóa diễn ra trên các lĩnh vực khác nhau: toàn cầu hóa về mặt kinh tế, toàn cầu hóa về mặt công nghệ, toàn cầu hóa trong lĩnh vực văn hóa xã hội và đặc biệt là toàn cầu hóa về tài chính. Sự phát triển và tự do hóa của thị trường tài chính trong những năm 80 đã dẫn đến sự hội nhập tài chính ngày càng cao và tạo nên những dòng chu chuyển vốn quốc tế khổng lồ. Mặc dù các quốc gia có thể lựa chọn những chính sách tỷ giá hối đoái khác nhau, nhưng đồng đô la Mỹ (USD) vẫn giữ vai trò đồng tiền thanh toán quốc tế quan trọng nhất. Một biểu hiện quan trọng của hội nhập tài chính là sự biến động cùng chiều của các biến số kinh tế như lạm phát, tăng trưởng GDP, giá tài sản ở một số quốc gia.
Điều này có thể được giải thích thông qua hiệu ứng “lây nhiễm” trong những giai đoạn nhạy cảm như giá cả sụt giảm hoặc trong thời kỳ khủng hoảng. Hiệu ứng này cũng thể hiện rõ trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Bắt nguồn từ những khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong giai đoạn 2001 – 2006, cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng Mỹ đã lây lan trên quy mô toàn thế giới. Sự đồng biến động trong giá cả tài sản cũng như giá trị các dòng chu chuyển vốn ngày càng cao cho thấy các thị trường tài chính đã có sự hội nhập ở quy mô toàn cầu.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự hội nhập này là chính sách tiền tệ của Mỹ và cũng có thể là sự lây nhiễm rủi ro trong giai đoạn khủng hoảng. Và hiệu ứng lây nhiễm này không chỉ xảy ra ở những nước có nền kinh tế phát triển. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, vai trò của các thị trường mới nổi ngày càng trở nên rõ nét. Cuộc khủng hoảng Đông Á giai đoạn 1997 – 1998 đã cho thấy vai trò của hiệu ứng lây nhiễm trong khu vực khi xảy ra khủng hoảng tài chính.
Sự bất ổn của các quốc gia Đông Á trong giai đoạn này được giải thích là do mức độ mở cửa tài chính cao (Corsetti và cộng sự, 1999) cũng như mức độ phụ thuộc lẫn nhau 6 trong khu vực (Kaminsky và cộng sự, 2003). Cuộc khủng hoảng này cũng thúc đẩy các quốc gia Đông Á cần tăng cường hợp tác để gia tăng sự độc lập trong chính sách tiền tệ. Những nỗ lực hợp tác này được cụ thể hóa thông qua Tiến trình giám sát ASEAN (ASEAN Surveillance Process) vào tháng 10 năm 1998, Sáng kiến Chiang Mai vào tháng 05 năm 2000 quy định về việc trao đổi song phương giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 bắt đầu từ sự sụp đổ của Lehman Brothers một lần nữa làm dấy lên mối lo ngại về sự biến động của các nước Đông Á đối với những cú sốc bên ngoài.
Để đối phó với cuộc khủng hoảng này, những nhà làm chính sách tại các quốc gia Đông Á đã tăng cường hợp tác tiền tệ bằng cách phát triển Sáng kiến Chiang Mai từ trao đổi song phương lên trao đổi đa phương vào năm 2009.