Mở đầu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây, bao gồm thảo luận về cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế. 3 Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả thực nghiệm và thảo luận kết quả. Chương 5: Kết luận, hàm ý chính sách và hạn chế của bài nghiên cứu.
Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây 2.1 Các nghiên cứu lý thuyết của tăng trưởng kinh tế 2.1 Mô hình tăng trưởng cổ điển Được hình thành cách đây khoảng 200 năm bởi Adam Smith (1723 – 1790) và được phát triển bởi David Ricardo (1772 – 1823). Mô hình ra đời trong điều kiện nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính, đất rộng người thưa, công cụ lạc hậu nên mô hình này mang những đặc điểm riêng của thời kỳ này. Theo Adam Smith thì: Lao động là nguồn gốc cơ bản tạo ra của cải. Học thuyết “Bàn tay vô hình”: theo ông thì chính phủ không nên kiểm soát thị trường, cứ để thị trường được tự do hoạt động.
Mỗi thành phần hoạt động trong thị trường tự do sẽ tối đa hóa lợi ích bản thân, từ đó lợi ích cá nhân sẽ gắn với lợi ích xã hội. Thu nhập được phân phối theo nguyên tắc “ai có gì được nấy”. Ý tưởng này dựa trên phân chia xã hội thời bấy giờ gồm 3 thành phần: địa chủ, nhà tư bản và công nhân. Sự phân phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu tố sản xuất.
Địa chủ có đất sẽ nhận địa tô, nhà tư bản có vốn sẽ nhận lợi nhuận, công nhân có sức lao động sẽ nhận tiền công. Mô hình tăng trưởng cổ điển được kế thừa và phát triển bởi David Ricardo. Trong giới hạn của điều kiện kinh tế xã hội thời đấy, Ricardo cho rằng nông nghiệp là ngành quan trọng nhất; và trong 3 yếu tố cơ bản quyết định tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn thì yếu tố quan trọng nhất là đất đai. Chính giới hạn của đất đai tạo ra giới hạn cho sự tăng trưởng.
Ông lý luận rằng đất đai là có giới hạn, sẽ đến lúc đất đai màu mỡ hết, phải trồng trọt trên những mảnh đất kém màu mỡ hơn làm chi phí sản xuất cao hơn, kéo theo giá lương thực, thực phẩm tăng. Mà lương thực, thực phẩm là khoản chi lớn nhất của công nhân. Do đó, để đảm bảo mức sống của công nhân thì khi giá lương thực, thực phẩm tăng sẽ khiến tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng phải tăng theo tương ứng; điều này làm lợi nhuận của các nhà tư bản có giảm xuống. Xu hướng 5 này sẽ làm lợi nhuận giảm dần không bù đắp nổi rủi ro kinh doanh dẫn đến nền kinh tế bế tắc.
Có thể giải quyết vấn đề này bằng cách xuất khẩu hàng hoá công nghiệp để mua lương thực, thực phẩm giá rẻ từ nước ngoài, hoặc phát triển công nghiệp để tác động vào nông nghiệp. Như vậy lập luận của Ricardo là: Tăng trưởng là kết quả của tích luỹ, tích luỹ phụ thuộc vào lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai. Do đó đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng.2 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế Vào cuối thế kỉ 19, cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 diễn ra đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế, từ đó mô hình kinh tế tân cổ điển đã ra đời. Mô hình kinh tế tân cổ điển kế thừa những điểm giống với mô hình cổ điển như sau: Thừa nhận 3 yếu tố sản xuất quyết định tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn.
Phủ nhận vai trò của chính phủ vào nền kinh tế. Ngoài tính kế thừa, mô hình kinh tế tân cổ điển đã bổ sung những điểm mới sau: Bổ sung yếu tố T, yếu tố công nghệ vào mô hình tăng trưởng. Nâng cao vai trò của vốn (khác mô hình cổ điển vối nhấn mạnh vai trò của đất đai, lao động). Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglass: Y = F (K,L,R,T) Trong đó: G: tốc độ tăng trưởng GDP K, L, R: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên T phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kĩ thuật 2.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes Lý thuyết tăng trưởng của Keynes ra đời trong bối cảnh nền kinh tế thế giới gặp khủng hoảng nặng nề vào thập niên 1930, khi đó chính sách “không can thiệp” của chính phủ (vốn chịu ảnh hưởng từ mô hình kinh tế cổ điển và mô hình kinh tế tân cổ điển) đã trở nên bất lực trong việc giải quyết khủng hoảng.
6 Lý thuyết Keynes bàn về một số nội dung cơ bản như sự cân bằng của nền kinh tế, nhấn mạnh vai trò can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, vai trò của tổng cầu trong tăng trưởng kinh tế. Trong giới hạn của bài nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ thảo luận kỹ về nội dung vai trò của tổng cầu trong tăng trưởng kinh tế. Theo Keynes thì đầu tư đóng một vai trò quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Sự gia tăng của đầu tư sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn, tăng nhu cầu các tư liệu sản xuất.
Từ đó làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân. Kết quả của quá trình này là làm cho thu nhập tăng lên. Đến lượt nó, tăng thu nhập lại là tiền đề cho sự tăng đầu tư mới. Đây là quá trình số nhân đầu tư: tăng đầu tư làm tăng thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới; tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập mới.
Chu kỳ đó lặp lại và từ đó nền kinh tế tăng trưởng. Mô hình Harrod- Domar Vào những năm 1940, dựa trên tư tưởng của Keynes và thực hiện nghiên cứu hoàn toàn độc lập với nhau, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra mô hình mới xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn. Theo Đinh Phi Hổ (2009) thì mô hình Harrod - Domar cho rằng nguồn gốc tăng trưởng kinh tế chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ tiết kiệm của quốc gia. Các tác giả cho rằng đầu ra (Y) của toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng vốn sản xuất (K).
Sự thay đổi tổng vốn sản xuất ( ΔK) sẽ ảnh hưởng đến tổng sản lượng đầu ra ( ΔY). Hệ số xác định mối quan hệ tỷ lệ giữa sự thay đổi vốn với đầu ra được gọi là ICOR (Incremental Capital - Output Ratio). ΔK ICOR = ΔY Mà vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư (tức I = ΔK); và tiết kiệm là nguồn gốc đầu tư (tức S = I). Tóm lại mô hình diễn đạt như sau: s g= 𝐼𝐶𝑂𝑅 g: tốc độ tăng trưởng s: tỷ lệ tiết kiệm = S/Y Công thức này chỉ ra rằng để tăng trưởng thì cần: 7 - Tăng tỷ lệ tiết kiệm: tiền tiết kiệm dùng để đầu tư càng lớn thì tăng trưởng càng nhanh.
Tuy nhiên nếu thu nhập bình quân đầu người thấp thì khó nâng cao tỷ lệ tiết kiệm. Hướng khắc phục chính là thu hút nguồn vốn đầu tư bên ngoài. - Giảm hệ số ICOR: Tuy nhiên điều là là khó khăn trong thực tế của các nước đang phát triển, vì xu hướng ICOR tăng dần theo giai đoạn phát triển kinh tế. Nguyên nhân ICOR tăng dần là do năng suất biên của vốn sẽ giảm dần.
Điều này có thể lý giải rằng tại các nước đang phát triển, tăng trưởng chủ yếu dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, ít dựa vào vốn đầu tư nên ICOR thấp. Kinh tế phát triển dần làm lao động giá rẻ ít đi và chuyển dần sang sử dụng thâm dụng vốn, cần vốn nhiều để đầu tư máy móc thiết bị nên ICOR cao. Tóm lại, mô hình Harrod - Domar xem sự tăng trưởng là kết quả giữa tiết kiệm với đầu tư; đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế.4 Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại Dựa vào lý thuyết Keynes trong thời gian dài, nhiều nước đã áp dụng chính sách kinh tế của nhà nước để can thiệp vào nền kinh tế một cách thường xuyên, hạn chế mức độ tự do của thị trường và do đó tạo trở ngại cho quá trình tăng trưởng. Vì vậy, các nhà kinh tế học của trường phái hỗn hợp ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế dung hòa giữa trường phái tân cổ điển và trường phái Keynes.
Đại diện tiêu biểu của trường phái này là P. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp ở những mức độ khác nhau. Đây được coi là mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại. Mô hình kinh tế hiện đại cho rằng các yếu tố tác động tăng trưởng kinh tế là: - Tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công nghệ: các yếu tố này khiến mô hình kinh tế học hiện đại giống với mô hình kinh tế tân cổ điển.
Mô hình kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với kiểu phân tích của hàm sản xuât Cobb- Douglass về sự tác động của các yếu tố trên với tăng trưởng. 8 - Tiết kiệm và vốn đầu tư: các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô hình Harrod-Domar về vai trò tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưỏng kinh tế.5 Lý thuyết giải thích sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế Theo bài nghiên cứu của Adams (2009), hai khía cạnh lý thuyết chính đã được sử dụng để giải thích sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế của nước nhận đầu tư. Đó là lý thuyết hiện đại hóa (modernization theories) và lý thuyết sự phụ thuộc (dependency theories). Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực đến nền kinh tế: Lý thuyết hiện đại hóa dựa trên một nguyên tắc cơ bản lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển là tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải đầu tư vốn.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các nước đang phát triển bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư.