Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Đoan Trang, chuyên ngành Kinh tế đầu tư (mã số 62310105), được bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc và TS Nguyễn Đình Phan.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công cuộc đổi mới tại Việt Nam từ năm 1986 đã thúc đẩy tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trưởng từ 5,1% đến 9,5%/năm trong giai đoạn từ năm 1988 trở đi. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương (giá hiện hành) đạt 6.022,2 USD/người, xếp thứ 121 trên thế giới. Trong tiến trình đó, đầu tư công giữ vai trò tạo lập hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề cần làm rõ:
- Đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (khoảng 35%), nhưng mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đã tới hạn, tăng trưởng chậm lại, sản xuất và xuất khẩu chủ yếu thâm dụng lao động với giá trị gia tăng thấp.
- Vai trò dẫn dắt, kích thích đầu tư tư nhân của khu vực công chưa thể hiện rõ nét; khu vực tư nhân trong nước phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp.
- Sự xuất hiện của các hiện tượng thất thoát, lãng phí và tham nhũng trong đầu tư công làm dấy lên nghi vấn về hiệu quả thực tế đối với nền kinh tế.
- Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận thực trạng đầu tư công đơn lẻ, phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân, hoặc chỉ khảo sát một khía cạnh riêng biệt mà chưa lượng hóa toàn diện các kênh tác động đồng thời của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng kết các cơ sở lý thuyết và mô hình thực nghiệm về đánh giá tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế.
- Đánh giá thực nghiệm tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1995–2016 (mốc 1995 bắt đầu chu kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm mới và hệ thống số liệu thống kê tại Việt Nam được chuẩn hóa); dữ liệu chuỗi thời gian phân tích theo quý từ quý I/2000 đến quý IV/2016 (2000QI–2016QIV) và ước lượng mức đầu tư công tối ưu giai đoạn 2001–2015.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhánh tiếp cận chính: từ phía cầu và từ phía cung.
Các hướng nghiên cứu từ phía cầu và hiệu ứng lấn át
Nghiên cứu của Easterly và Rebelo (1993) sử dụng hồi quy cắt ngang cho 28 quốc gia chỉ ra đầu tư công có tác động dương tới tăng trưởng (hệ số 0,4) và đầu tư tư nhân (hệ số xấp xỉ 1). Ngược lại, Bairam và Ward (1993) trên 25 quốc gia, Monadjemi (1993) tại Australia và Mỹ, cùng Kitaoka (2002) tại Nhật Bản ghi nhận hệ số âm có ý nghĩa thống kê của đầu tư công trong hàm đầu tư tư nhân, minh chứng cho hiệu ứng lấn át (crowding-out). Xin Wang và Yi Wen (2013) sử dụng mô hình VAR cấu trúc (SVAR) đối với số liệu Trung Quốc, ghi nhận số nhân chi tiêu chính phủ đối với GDP đạt từ 2,7 đến 5,6 ở cấp quốc gia và 2,8 đến 6,5 ở cấp tỉnh, đồng thời hệ số nhân đối với đầu tư tư nhân là 2,337.
Tại Việt Nam, Tô Trung Thành (2011) sử dụng mô hình VECM giai đoạn 1986–2010 chỉ ra 1% gia tăng đầu tư tư nhân đóng góp 0,33% tăng trưởng GDP trong dài hạn, trong khi đầu tư công chỉ đóng góp 0,23%; đồng thời 1% gia tăng đầu tư công làm giảm 0,48% đầu tư tư nhân sau một thập kỷ. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (2012) áp dụng mô hình VECM và hàm sản xuất cho thấy trong ngắn hạn đầu tư công tác động mạnh hơn đầu tư tư nhân, đạt đỉnh vào năm thứ 5 rồi giảm dần; trong dài hạn đầu tư tư nhân giữ vai trò chủ đạo.
Về cán cân thương mại, Agénor và cộng sự (2005) cùng Jan in 't Veld (2016) thông qua mô hình QUEST mô phỏng khu vực Eurozone cho thấy tăng đầu tư công thêm 1% GDP tại Đức và Hà Lan làm giảm tài khoản vãng lai tương ứng 0,2 và 0,3 điểm phần trăm.
Các hướng nghiên cứu từ phía cung, hàm sản xuất và năng suất
- Hàm sản xuất và sản lượng: Ward Romp và Jakob de Haan (2005) khái quát hóa hàm Cobb-Douglas mở rộng có vốn đầu tư công. Aschauer (1989a) tìm thấy độ co giãn đầu ra theo vốn công đạt 0,35 tại Mỹ. Demetriades và Mamuneas (2000) phân tích dữ liệu bảng 12 nước OECD giai đoạn 1972–1991 ghi nhận hệ số tác động ngắn hạn dao động từ 0,36 (Anh) đến 2,06 (Na Uy). Calderon và Serven (2002) dùng phương pháp biến công cụ cho 101 quốc gia giai đoạn 1960–1997 chỉ ra độ co giãn bình quân của cơ sở hạ tầng là 0,16. Calderón và Servén (2004a, 2004b) ước lượng GMM cho 100 quốc gia giai đoạn 1960–2000 khẳng định cắt giảm chi tiêu hạ tầng làm giảm 3% tăng trưởng dài hạn tại Argentina, Bolivia, Brazil và 1,5–2% tại Chile, Mexico, Peru. Canning và Pedroni (1999) cùng Esfahani và Ramírez (2003) giải quyết quan hệ nhân quả hai chiều qua mô hình hiệu chỉnh sai số động và hệ phương trình đệ quy.
- Năng suất lao động: Aschauer (1989b) phân tích 7 nước G7 giai đoạn 1966–1985 ghi nhận tăng 1% tỷ lệ đầu tư công/GDP giúp năng suất lao động tăng 0,4%/năm. Andreas Stephan (2003) phân tích 11 bang Tây Đức giai đoạn 1970–1996; Ramirez (2009) phân tích Argentina giai đoạn 1960–2005; Fernald (1999) khảo sát hạ tầng đường bộ tại Mỹ; Jean-Marc Fournier (2016) xây dựng mô hình tăng trưởng tích hợp vốn con người và PISA.
- Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Hulten và Schwab (1984, 1991) ghi nhận tác động yếu của đầu tư công tới TFP; Munnell (1990a, 1990b) tìm thấy hệ số 0,35 cho toàn nước Mỹ nhưng chỉ đạt 0,15 ở cấp bang; Morrison và Schwartz (1994, 1996) chỉ ra hiệu ứng giảm chi phí bằng 0 nếu tính chi phí tài trợ từ thuế. Khan và Kumar (1997) đánh giá giai đoạn 1970–1990 tại các nước đang phát triển. Eliana La Ferrara và Massimiliano Marcellino (2000) dùng dữ liệu bảng vùng tại Ý giai đoạn 1970–1994 xác định độ co giãn của TFP theo đầu tư công là 0,47 (ý nghĩa thống kê 5%).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Luận án khắc phục hạn chế của các công trình trước tại Việt Nam bằng việc:
- Đánh giá đồng thời cả tác động trực tiếp và gián tiếp qua nhiều kênh từ phía cung và phía cầu trong một khung phân tích thống nhất.
- Xác định ngưỡng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam.
- Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quản lý, phân bổ nguồn lực và nhu cầu vốn tới mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
- Bản chất đầu tư công: Luận án phân tích ba quan điểm định nghĩa: (1) theo sở hữu vốn nhà nước, (2) theo mục tiêu phi lợi nhuận, và (3) theo mục đích phục vụ lợi ích công cộng (cho phép huy động vốn hỗn hợp công - tư). Luận án đồng thuận về mặt lý luận với quan điểm thứ ba, song trong phân tích định lượng thực tế, do hạn chế dữ liệu thống kê, luận án sử dụng phạm vi quy định tại Luật Đầu tư công năm 2014 (gồm ngân sách nhà nước, công trái, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, ODA, vốn vay ưu đãi, tín dụng đầu tư phát triển và nguồn thu hợp pháp để lại).
- Lý thuyết hàng hóa công cộng: Phân loại thành hàng hóa công cộng thuần túy (không cạnh tranh, không loại trừ) do Nhà nước đầu tư hoàn toàn và hàng hóa công cộng không thuần túy (có thể thu phí) tạo cơ sở cho hình thức đối tác công - tư (PPP).
- Khung phân tích tác động:
- Phía cầu: Dựa trên phương trình cân bằng vĩ mô Keynes:
$$\text{GDP} = C + G + I + NX$$
Trong đó $G = GI + GC$ ($GI$ là đầu tư công, $GC$ là chi thường xuyên). Tăng $GI$ tác động trực tiếp lên GDP và tác động gián tiếp qua kích thích tiêu dùng tư nhân ($C$) và đầu tư tư nhân ($I$), cùng tác động hai chiều tới cán cân thương mại ($NX$).
- Phía cung: Dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh:
$$\text{GDP} = f(KG, KP, L, TFP)$$
Trong đó $KG$ là vốn đầu tư công, $KP$ là vốn đầu tư tư nhân, $L$ là lao động, $TFP$ là năng suất nhân tố tổng hợp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
| Phương pháp |
Công cụ / Kỹ thuật |
Mục đích áp dụng |
| Phân tích tổng hợp & So sánh |
Tổng hợp tài liệu, thống kê so sánh |
Hệ thống hóa lý luận, đánh giá xu hướng đầu tư công quốc tế và thực trạng Việt Nam. |
| Thống kê mô tả |
Tính toán hệ số ICOR, cơ cấu vốn |
Đánh giá các khía cạnh không lượng hóa được qua mô hình (kênh tiêu dùng, cơ cấu ngành). |
| Phương pháp chuyên gia |
Tham vấn chuyên gia |
Đánh giá cơ chế quản lý, phân cấp ngân sách và chất lượng dự án. |
| Điều tra khảo sát |
Bảng hỏi tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư |
Thu thập đánh giá thực tiễn của cơ quan quản lý địa phương về các yếu tố cản trở/thúc đẩy. |
| Kinh tế lượng chuỗi thời gian |
Mô hình VECM, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng tích hợp, hàm phản ứng đẩy, phân rã phương sai |
Đánh giá tác động tương hỗ ngắn hạn và dài hạn giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân và GDP. |
| Hồi quy OLS |
Hồi quy tuyến tính |
Ước lượng các hệ số co giãn và xác định tỷ lệ đầu tư công tối ưu. |
| Phân tích nhân tố khám phá (EFA) |
Phần mềm SPSS |
Xử lý dữ liệu khảo sát, rút trích các nhóm nhân tố tác động đến quan hệ đầu tư công - tăng trưởng. |
Nguồn dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê các tỉnh/thành phố, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, World Bank, IMF, OECD.
- Dữ liệu sơ cấp: Điều tra khảo sát cán bộ quản lý tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư công và tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế
Chương này tập trung làm rõ:
- Khái niệm, bản chất, phân loại (theo lĩnh vực hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội; theo tính chất xây dựng; theo quy mô dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C) và các đặc điểm đặc thù của đầu tư công so với đầu tư tư nhân.
- Phân tích xu hướng biến động đầu tư công trên thế giới: sự suy giảm từ 4% GDP (thập niên 1970) xuống 2–3% GDP tại các nền kinh tế phát triển (Mỹ, 15 nước EU) do tư nhân hóa và quy tắc tài khóa EMU; xu hướng duy trì 6–7% GDP tại các nước đang phát triển và thị trường mới nổi.
- Thiết lập khung lý thuyết gồm 6 kênh truyền dẫn tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế: 3 kênh phía cầu (trực tiếp sản lượng, kích thích đầu tư tư nhân, cán cân thương mại) và 3 kênh phía cung (trực tiếp sản lượng hạ tầng, năng suất lao động, TFP).
- Xác định 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng: cơ chế chính sách, hiệu quả vi mô của dự án (NPV, IRR), phân bổ vốn đầu tư công, nhu cầu vốn đầu tư công, và mức độ xã hội hóa nguồn vốn.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 thực hiện:
- Hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế về tác động từ phía cầu, phía cung, hiệu ứng lấn át hoặc bổ sung đối với đầu tư tư nhân, và tác động lên TFP, năng suất lao động.
- Trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu định lượng: kiểm định tính dừng của chuỗi số liệu (GDP, IG, ITN), kiểm định đồng tích hợp Johansen, chỉ định cấu trúc độ trễ tối ưu cho hệ phương trình VECM, phân tích hàm phản ứng đẩy (impulse response functions) và phân rã phương sai sai số dự báo.
- Thiết lập mô hình xác định mức đầu tư công tối ưu trên cơ sở hàm tăng trưởng dạng phi tuyến và phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên SPSS.
Chương 3: Thực trạng đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng kinh tế - xã hội giai đoạn 1995–2016:
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân các kỳ kế hoạch 5 năm, cơ cấu kinh tế theo ngành (chuyển dịch chậm, công nghiệp chế biến chế tạo gia công giá trị thấp).
- Thực trạng nguồn hình thành vốn đầu tư công: ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, tín dụng nhà nước, ODA và vốn vay ưu đãi.
- Cơ cấu phân bổ vốn tập trung chủ yếu vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, thủy lợi, năng lượng).
- Đo lường hiệu quả đầu tư qua hệ số ICOR: ICOR khu vực kinh tế nhà nước luôn cao hơn đáng kể so với khu vực tư nhân và khu vực FDI, phản ánh tình trạng sử dụng vốn kém hiệu quả, phân tán, dàn trải, và chậm tiến độ bàn giao công trình.
Chương 4: Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương 4 công bố các kết quả định lượng:
- Kiểm định tính dừng và đồng tích hợp: Chuỗi số liệu GDP và đầu tư công (IG) giai đoạn 2000QI–2016QIV đều là chuỗi không dừng ở bậc gốc nhưng dừng ở sai phân bậc 1 $I(1)$ và tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn.
- Ước lượng mô hình VECM: Đầu tư công có tác động dương tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Phân tích hàm phản ứng đẩy chỉ ra cú sốc tăng đầu tư công ban đầu thúc đẩy tăng trưởng sản lượng, sau đó xuất hiện sự tương tác với đầu tư tư nhân.
- Tác động tới năng suất lao động: Kết quả hồi quy khẳng định đầu tư công đóng góp tích cực vào gia tăng năng suất lao động xã hội thông qua cải thiện hạ tầng vật chất kỹ thuật.
- Mức đầu tư công tối ưu: Luận án tính toán tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu cho Việt Nam giai đoạn 2001–2015, chỉ ra mức đầu tư công thực tế trong nhiều năm đã vượt qua ngưỡng tối ưu, làm giảm hiệu quả biên của đồng vốn.
- Kết quả phân tích nhân tố EFA và hồi quy: Mức độ tác động của các nhóm nhân tố tới quan hệ đầu tư công - tăng trưởng được xếp hạng theo thứ tự:
- Quản lý đầu tư công (hệ số tác động lớn nhất);
- Nhu cầu vốn đầu tư công (hệ số tác động lớn thứ hai);
- Phân bổ vốn đầu tư công (hệ số tác động lớn thứ ba);
- Nhân tố xã hội hóa nguồn vốn chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê trong mẫu khảo sát.
Chương 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách
Chương này tổng kết các phát hiện chính và đưa ra 4 nhóm khuyến nghị:
- Đổi mới quy trình lập kế hoạch và quản lý dự án đầu tư công theo Khung chi tiêu trung hạn (MTEF).
- Tái cơ cấu phân bổ vốn đầu tư công, tập trung vốn dứt điểm cho các dự án hạ tầng liên vùng trọng điểm, tránh phân tán cho cấp địa phương.
- Kiểm soát nợ công và thâm hụt ngân sách phát sinh từ việc vay nợ tài trợ các dự án kém hiệu quả kinh tế.
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hình thức đối tác công - tư (PPP) nhằm chia sẻ rủi ro và thu hút nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về học thuật và lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ bản chất, nội hàm khái niệm đầu tư công theo 3 hướng tiếp cận (sở hữu vốn, tính chất lợi nhuận, và mục đích phục vụ lợi ích công cộng), khẳng định cách tiếp cận theo mục đích là phù hợp với xu thế xã hội hóa.
- Hoàn thiện khung lý thuyết đánh giá tác động 6 kênh của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế từ cả hai phía cung và cầu.
Đóng góp thực tiễn và kết quả nghiên cứu
- Lượng hóa thực nghiệm tác động của đầu tư công tới GDP giai đoạn 1995–2016, xác nhận đầu tư công duy trì tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
- Tách bạch và lượng hóa được cả tác động trực tiếp và gián tiếp của đầu tư công tới sản lượng và năng suất lao động.
- Xác định ngưỡng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu của Việt Nam theo từng năm và từng giai đoạn từ 2001 đến 2015.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tiêu cực của việc vay nợ quá mức tài trợ cho các dự án đầu tư công hiệu quả thấp, gây áp lực bất ổn vĩ mô và suy giảm tiềm năng tăng trưởng.
- Lượng hóa thứ bậc ảnh hưởng của các yếu tố can thiệp: Quản lý đầu tư công có tác động mạnh nhất, tiếp đến là Nhu cầu vốn đầu tư công, và Phân bổ vốn đầu tư công.
- Chỉ ra đặc thù: do nhu cầu vốn phát triển hạ tầng của Việt Nam còn rất lớn nên đầu tư công vẫn mang lại tác động dương cho tăng trưởng dù hiệu quả quản lý còn nhiều hạn chế.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Chuyển đổi quản lý đầu tư công sang kế hoạch trung hạn 5 năm gắn với chiến lược tài khóa bền vững.
- Rà soát tiêu chí phê duyệt dự án, gắn trách nhiệm người ra quyết định đầu tư với kết quả giải ngân và vận hành khai thác.
- Cắt giảm tỷ trọng đầu tư công trong các lĩnh vực khu vực tư nhân có thể đảm nhận, đẩy mạnh hình thức PPP có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dữ liệu và mô hình: Luận án chưa lượng hóa được đầy đủ 6/6 kênh tác động trong khung lý thuyết đã đề ra, mới chỉ lượng hóa được 4 kênh. Kênh tác động tới cán cân thương mại đòi hỏi các mô hình cân bằng tổng thể đa quốc gia (CGE) hoặc mô hình vĩ mô cấu trúc phức tạp vượt quá nguồn lực của luận án. Kênh tác động tới TFP chưa thực hiện được do thiếu chuỗi số liệu tích lũy vốn đầu tư công tin cậy ở cấp tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu khi số liệu tích lũy vốn hạ tầng cấp tỉnh được chuẩn hóa; ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể ngẫu nhiên động (DSGE) hoặc CGE để phân tích sâu tác động thương mại quốc tế và các cú sốc tài khóa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện về các mô hình kinh tế lượng đánh giá chính sách tài khóa (VECM, hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng, EFA) và khung lý thuyết phân tích đầu tư công từ phía cung và phía cầu.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các cơ quan của Quốc hội và Ủy ban nhân dân các tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, xác định trần nợ công, định hình quy mô đầu tư công/GDP tối ưu và xây dựng cơ chế quản lý phân bổ nguồn vốn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng định nghĩa đầu tư công nào trong quá trình phân tích định lượng?
Về mặt lý luận, tác giả ủng hộ quan điểm đầu tư công xác định theo mục đích phục vụ lợi ích công cộng (không phân biệt nguồn vốn). Tuy nhiên, trong phân tích thực nghiệm, do hạn chế về nguồn số liệu thống kê tư nhân tham gia hạ tầng, tác giả sử dụng số liệu đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2014, bao gồm vốn ngân sách nhà nước, công trái, trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương, ODA, vốn vay ưu đãi, tín dụng đầu tư phát triển và nguồn thu hợp pháp để lại.
2. Mô hình định lượng chính nào được tác giả sử dụng để đánh giá tác động tới GDP?
Tác giả sử dụng Mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) dựa trên chuỗi số liệu theo quý giai đoạn 2000QI–2016QIV để kiểm định mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn và phân tích phản ứng đẩy giữa các biến GDP, đầu tư công (IG) và đầu tư tư nhân. Bên cạnh đó, luận án kết hợp hồi quy OLS và phân tích nhân tố khám phá EFA trên SPSS cho dữ liệu điều tra.
3. Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố quản lý đầu tư công như thế nào?
Kết quả phân tích EFA và hồi quy chỉ ra 3 yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động tới quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế, xếp theo thứ tự mức độ giảm dần: (1) Quản lý đầu tư công (lớn nhất), (2) Nhu cầu vốn đầu tư công (thứ hai), và (3) Phân bổ vốn đầu tư công (thứ ba). Nhân tố xã hội hóa nguồn vốn chưa có đủ bằng chứng thống kê thể hiện tác động trong mô hình khảo sát.
4. Vì sao luận án chỉ lượng hóa được 4 trong số 6 kênh tác động nêu trong khung lý thuyết?
Do hạn chế về nguồn lực và dữ liệu thống kê: việc đánh giá kênh cán cân thương mại đòi hỏi mô hình cân bằng tổng thể phức tạp (CGE) vượt quá phạm vi luận án; trong khi kênh tác động đến TFP không thể thực hiện do thiếu số liệu tích lũy vốn đầu tư công theo cấp tỉnh có độ tin cậy cần thiết.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đoan Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực nghiệm tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1995–2016. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và các mô hình kinh tế lượng VECM, OLS cùng phân tích EFA, nghiên cứu đã chứng minh đầu tư công có tác động dương đến GDP và năng suất lao động, đồng thời lượng hóa mức đầu tư công tối ưu và xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư. Những kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách phân bổ và quản lý đầu tư công tại Việt Nam.