Đặt vấn đề, tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Câu hỏi nghiên cứu 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Phương pháp nghiên cứu 1. Tính mới và giá trị thực tiễn 1. Bố cục dự kiến của đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận 2. Hệ thống tài chính và phát triển tài chính 2.
Hệ thống tài chính 2. Nguyên nhân hình thành 2. Phát triển tài chính 2. Các thước đo phát triển tài chính -7- 2.
Cơ sở lý luận về tăng trưởng 2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Sự phát triển các tư tưởng chủ đạo qua thời gian 2. Quan điểm ủng hộ 2.
Quan điểm hoài nghi 2. Các nghiên cứu thực nghiệm 2. Nghiên cứu dữ liệu chéo 2. Nghiên cứu dữ liệu thời gian 2.
Nghiên cứu dữ liệu bảng Chương 3: Phương pháp định lượng 3. Mô hình và dữ liệu nghiên cứu 3. Phương pháp ước lượng Chương 4: Kết quả và thảo luận 4. Kết quả thực nghiệm 4.
Thảo luận kết quả Chương 5: Kết luận và hạn chế của đề tài 5. Hạn chế của đề tài Tài liệu trích dẫn/tham khảo Phụ lục (nếu có) -8- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Hệ thống tài chính và phát triển tài chính 2. Hệ thống tài chính 2. Khái niệm hệ thống tài chính Hệ thống tài chính là một hệ thống trong đó các chủ thể kinh tế (hộ gia đình, DN, chính phủ) và các thị trường tương tác lẫn nhau, nhằm mục đích huy động các nguồn tiền tệ cho việc đầu tư, cung cấp các phương tiện thanh toán và tài trợ các hoạt động thương mại (IMF, 2006).
Hệ thống tài chính bao gồm các ngân hàng, các TTTC, các TGTC khác (như quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm), và các cơ quan điều tiết như NHTW. Khu vực tài chính này có nhiệm vụ tối ưu hóa các nguồn lực, nhằm tạo điều kiện cho việc hình thành vốn, thông qua việc cung cấp một loạt các công cụ tài chính đa dạng nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể của người vay và cho vay. Nguyên nhân hình thành hệ thống tài chính Chi phí giao dịch và chi phí thông tin là nguyên nhân chính khiến cho hệ thống tài chính ra đời và phát triển (Mishkin, 2007). Trong một nền kinh tế, có nhiều chủ thể thừa vốn, trong khi cũng có các chủ thể khác thiếu vốn.
Nếu không có một hệ thống tài chính hiệu quả, để huy động được lượng vốn cần thiết, các chủ thể thiếu vốn phải tiếp cận với từng chủ thể thừa vốn để đi vay. Nhưng vì các chủ thể thừa vốn có rất ít thông tin về dự án đầu tư, trong khi chủ thể thiếu vốn cũng không có đủ thông tin về những người thừa vốn mà mức vốn mà họ sẵn sàng cho vay, nên quá trình này sẽ rất tốn thời gian và chi phí. -9- Hơn nữa, khi người cho vay và đi vay không chia sẻ các thông tin với nhau, các hợp đồng tài chính thường phải bao gồm các chi phí đại diện nhằm bù đắp cho việc giám sát dự án (Williamson, 1986; Bernanke và Gertler, 1989, 1990). Trong khi người đi vay nắm giữ các thông tin nội bộ về dự án đầu tư, nhưng họ lại có rất ít động cơ chia sẻ chúng với người cho vay.
Do đó, để thu thập được các thông tin này, người cho vay phải bỏ ra một khoản chi phí khá tốn kém. Mặt khác, vì các cá nhân cho vay thường không đủ khả năng phân biệt được người đi vay tiềm năng và người đi vay xấu, do đó họ thường đặt mức bù lãi suất cao và có thể làm nhụt chí người đi vay tiềm năng. Vì không có đầy đủ các thông tin cần thiết, nguồn tín dụng sẽ bị phân bổ một cách hạn chế (Jaffee và Russell, 1976). Do đó, không có thông tin hợp lý, thị trường tín dụng sẽ hoạt động kém hiệu quả, vì các khoản vốn có thể bị phân bổ tới những người đi vay xấu trong khi những người đi vay tốt lại không vay được.
Hệ thống tài chính (gồm thị trường và các TGTC) đóng một vai trò quan trọng trong việc huy động và trung chuyển nguồn tiết kiệm, đảm bảo các nguồn vốn này được phân bổ một cách hiệu quả đến những khu vực có năng suất cao. Thông qua lợi ích kinh tế quy mô, thị trường và TGTC có thể cải thiện các vấn đề về thông tin không cân xứng cũng như chi phí giao dịch cao (Mishkin, 2007). Khả năng của thị trường và TGTC nhằm làm giảm các rào cản thị trường này có thể dẫn tới một sự phân bổ nguồn lực nguồn lực hiệu quả hơn và do đó thúc đẩy tăng trưởng dài hạn (Diamond, 1984; Boyd và Presscott, 1986; Williamson, 1986; King và Levine, 1993b). Chức năng của hệ thống tài chính Levine (1997) đề ra 5 chức năng chính của hệ thống tài chính như sau6: Trung gian phân bổ nguồn lực: Chức năng chính của hệ thống tài chính là chuyển nguồn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn thông qua con đường tài chính hoặc gián tiếp (Hình 2.
Một hệ thống tài chính hoạt động 6 Cách thức phân loại này không phải là cách tiếp cận duy nhất, tuy nhiên được xem là cách phù hợp với phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính (Cihak và cộng sự, 2012). - 10 - hiệu quả dẫn đến sự phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Levine (2005) còn mô tả chức năng này là “cung cấp và xử lý các thông tin đầu tư và phân bổ nguồn vốn”.1: Sơ đồ các kênh dẫn vốn Nguồn: Mishkin (2007) Tobin và Brainard (1963) lập luận rằng, với khả năng đánh giá dự án đầu tư, các TGTC giúp các DN mở rộng hoạt động bằng cách cho vay với lãi suất thấp và điều kiện vay dễ dàng. Các TGTC đánh giá các cơ hội đầu tư khác nhau dựa trên các rủi ro liên quan, nhằm tài trợ vốn vào các dự án hiệu quả cao nhất.
Điều này làm cho chất lượng của các khoản đầu tư được cải thiện và dẫn đến hiệu ứng mở rộng nền kinh tế. Bên cạnh đó, TTTC cũng có thể có lợi thế so sánh hơn so với TGTC trong việc tài trợ các dự án đầu tư đổi mới, bởi vì những người tham gia thị trường có thể thu được các thông tin liên quan đến DN một cách nhanh chóng, dẫn đến phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. - 11 - Huy động tiết kiệm: Hệ thống tài chính đóng một vai trò quan trọng trong việc điều phối tương ứng các quyết định tiết kiệm và đầu tư của hộ gia đình và DN (Wicksell, 1935). Khoản tiết kiệm từ một hộ gia đình cụ thể có thể không đủ để tài trợ cho một dự án.
Hệ thống tài chính sẽ huy động vốn cho dự án bằng cách gộp các khoản tiết kiệm khác nhau của các hộ gia đình và dùng toàn bộ nguồn vốn này để cho vay. Vì vậy, khi hệ thống tài chính mở rộng, lượng tiết kiệm tăng lên, và lượng đầu tư có thể tăng lên tương ứng. Điều này thúc đẩy các hoạt động TGTC, và do đó làm tăng thêm độ sâu của hệ thống tài chính (financial depth) (Rousseau và Wachtel, 2011; Sahay và cộng sự, 2015). Chia sẻ và quản lý rủi ro: Hệ thống tài chính hiệu quả cho phép nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục và phòng ngừa rủi ro.
Do kinh tế quy mô, TGTC có thể cung cấp thanh khoản một cách hiệu quả bằng cách kết hợp hợp lý thời gian đáo hạn của các khoản đi vay và cho vay khác nhau (Diamond và Dybvig, 1983). Sự phát triển của TGTC cũng làm giảm thiểu mạnh mẽ các rủi ro thanh khoản mà nhà đầu tư có thể gặp phải, giúp nhà đầu tư có thể tránh được rủi ro vỡ nợ hoặc phá sản, và do đó thúc đẩy các hoạt động đầu tư (Bencivenga và Smith, 1991) thông qua quá trình chuyển đổi tài sản rủi ro thành tài sản an toàn hơn (Mishkin, 2007). TTTC cũng có thể thay thế TGTC cung cấp nguồn thanh khoản dồi dào. Ví dụ như, khi người gửi tiền không sẵn lòng ký gửi dài hạn trong ngân hàng trong khi các dự án đầu tư tiềm năng đòi hỏi nguồn vốn dài hạn, TTTC (cụ thể là TTCK) sẽ cho phép nhà đầu tư đầu tư vào các dự án này nhưng vẫn có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng.
Do vậy, TTCK cũng là một con đường hấp dẫn với nhiều nhà đầu tư. - 12 - Thúc đẩy hoạt động giao dịch, thương mại: Các giao dịch kinh doanh được đẩy nhanh nhờ được cung cấp tín dụng hoặc bảo lãnh thanh toán. Gurley và Shaw (1960) cho rằng, chức năng chính của các TGTC là chuyển đổi các chứng khoán sơ cấp thành các chứng khoán thứ cấp. Các TGTC có thể thu được lợi nhuận trong quá trình chuyển đổi này bằng cách khai thác lợi thế kinh tế quy mô, cắt giảm chi phí giao dịch.
Mặt khác, mức chi phí giao dịch thấp hàm ý các TGTC có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh tín dụng (Mishkin, 2007). Thực hiện giám sát DN: Các chi phí liên quan đến việc giám sát DN có thể được giảm thiểu nhờ sự mở rộng các dịch vụ TGTC. Ở góc độ cá nhân, nếu như các chi phí kiểm tra thông tin quá cao, nhà đầu tư sẽ mong muốn mức bù rủi ro cao hơn khiến lãi suất tăng lên, các DN sẽ hạn chế vay, và như vậy, DN càng có nhiều khoản vay sẽ hàm ý rủi ro vỡ nợ càng cao. Nói cách khác, các chi phí thẩm tra này có thể ngăn trở các khoản đầu tư hiệu quả (Bernanke và Gertler, 1989).
Nhờ có các TGTC, các chi phí giám sát có thể được giảm thiểu thông qua các hợp đồng tài chính thích hợp (Diamond, 1984). Mặt khác, từ quan điểm của TTTC, việc định giá tài sản DN dựa trên giá cả chứng khoán có thể là một tiêu chuẩn so sánh để đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý DN. Điều này dẫn đến hiệu quả giám sát DN được cải thiện, và có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Phát triển tài chính 2.
Khái niệm phát triển tài chính Một số nhà kinh tế định nghĩa phát triển tài chính là mức độ hệ thống tài chính giúp cải thiện sự thiếu hoàn hảo của thị trường. Tuy nhiên, theo Cihak và cộng sự (2012), định nghĩa này quá hẹp và không cung cấp nhiều thông tin về các chức năng thực sự mà hệ thống tài chính thực hiện cho nền kinh tế.