Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách trong bối cảnh hoàn thiện hệ thống thể chế tài chính tại Việt Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ra đời đã chính thức ghi nhận tổ chức tài chính vi mô (TCVM) là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) độc lập, đồng thời giao trách nhiệm cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, sau hơn bốn năm luật có hiệu lực (tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2015), NHNN vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về TCVM. Toàn bộ hoạt động của các tổ chức TCVM trên thực tế vẫn chịu sự điều chỉnh của các văn bản ban hành trước năm 2010 dựa trên Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2004, cụ thể là Nghị định số 28/2005/NĐ-CP, Nghị định số 165/2007/NĐ-CP và Thông tư số 02/2008/TT-NHNN.
Thực trạng này tạo ra sự thiếu đồng bộ, bất cập trong việc quản lý từ khâu thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản cho đến quản trị, điều hành và hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020" đã xác định giải pháp trọng tâm là xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động TCVM. Mặc dù hoạt động TCVM đã du nhập vào Việt Nam từ nhiều năm, các nghiên cứu pháp lý chuyên sâu về tổ chức TCVM ở cấp độ luận án tiến sĩ vẫn còn thiếu vắng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:
- Đánh giá mức độ phù hợp và chưa phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức TCVM đối với tình hình thực tiễn của ngành TCVM tại Việt Nam.
- Xác định cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức TCVM, tạo tiền đề phát triển hệ thống TCVM.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức TCVM tại Việt Nam.
Để thực hiện các mục đích trên, luận án triển khai năm nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích, làm rõ vai trò của TCVM và tổ chức TCVM đối với công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.
- Làm rõ các khái niệm tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, pháp luật về tài chính vi mô; xác định sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động và tổ chức TCVM.
- Phân tích hệ thống quy định pháp luật hiện hành về thành lập, giải thể, phá sản tổ chức TCVM nhằm chỉ ra các điểm bất cập đối với thực tiễn.
- Xác định khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM, so sánh với hoạt động của các chương trình, dự án TCVM để chỉ ra điểm hợp lý và bất hợp lý.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh tổ chức TCVM tại Việt Nam.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra năm câu hỏi nghiên cứu lớn:
- TCVM là gì? TCVM có thể được thực hiện bởi những chủ thể nào trong xã hội? Vai trò của TCVM đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
- Tổ chức TCVM là gì? Tổ chức TCVM có gì khác biệt so với các chủ thể không phải là tổ chức TCVM nhưng có thực hiện hoạt động TCVM?
- Hiện nay pháp luật đang điều chỉnh như thế nào đối với các tổ chức TCVM?
- Thực trạng pháp luật điều chỉnh đối với các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay có thực sự phù hợp và đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn?
- Để hoàn thiện pháp luật về tổ chức TCVM cần phải thực hiện những giải pháp nào? Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của những giải pháp đó là gì?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay chưa thực sự phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn ngành TCVM; các quy định còn tồn tại nhiều bất cập, chưa tạo môi trường thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức TCVM cũng như toàn ngành TCVM Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản pháp luật hiện hành về tổ chức TCVM và thực tiễn tổ chức, hoạt động của các tổ chức TCVM tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề pháp lý đặt ra đối với tổ chức TCVM gồm: (i) thành lập, tổ chức lại, phá sản và giải thể; (ii) quản trị, điều hành; (iii) hoạt động kinh doanh. Luận án tập trung vào tổ chức TCVM theo luật định, không đi sâu vào các chủ thể khác cung ứng dịch vụ TCVM.
- Thời gian nghiên cứu: Chủ yếu từ năm 2005 (thời điểm ban hành Nghị định 28/2005/NĐ-CP) đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Luận án tổng thuật các công trình quốc tế theo hai nhóm định hướng chính:
Nhóm nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của TCVM đối với xóa đói giảm nghèo:
- Các nghiên cứu và báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), ghi nhận vai trò nguồn lực tài chính cho các quốc gia đang phát triển (như khoản viện trợ 40 triệu USD năm 2013 cho Việt Nam).
- Meyer và Nagarajan (1992) nghiên cứu vai trò của tài chính phi chính thức trong quá trình phát triển.
- Hulme D. (1996) phân tích mức độ tiếp cận tài chính của người nghèo và nhóm yếu thế.
- Meyer (2002) thiết lập khung tam giác tài chính nông thôn gồm ba yếu tố: bền vững tài chính, sự tiếp cận và tác động.
- Mohammat Yunus (2003, 2005) khẳng định vai trò của TCVM và tín dụng vi mô trong mục tiêu giảm nghèo và mục tiêu thiên niên kỷ.
- Chowdhury Annis (2009) đánh giá TCVM với tư cách là công cụ giảm nghèo.
- Olle Berggren (2012) khảo sát hiệu quả của các tổ chức phi chính thức cung cấp dịch vụ TCVM tại 72 quốc gia giai đoạn 2003–2010.
Nhóm nghiên cứu về giải pháp phát triển hoạt động và thể chế TCVM:
- Các báo cáo chiến lược và hỗ trợ kỹ thuật của ADB (Finance for the poor: ADB Microfinance Strategies; Policy and Advisory Technical Assistance to Vietnam's Implementation of Microfinance Development Program).
- D.W Adams (1995) nghiên cứu sự chuyển dịch từ tín dụng nông nghiệp sang tài chính nông thôn.
- Meyer và Nagarajan (2000) phân tích thị trường tài chính nông thôn châu Á về chính sách, mô hình và hoạt động.
- J. Yaron (1992, 1997) nghiên cứu các tổ chức tài chính nông thôn thành công và thực tiễn tốt.
- J. Ledgerwood (1999) tổng kết khía cạnh thể chế, tài chính và sản phẩm TCVM nông thôn.
- Zeller (2003) phân tích mô hình thể chế tài chính nông thôn và vai trò của luật pháp.
- Steinwand nghiên cứu sự tiếp cận bền vững qua 5 ca điển hình tại châu Á.
- Jonathan Morduch (2008) phân tích bản chất tự vững và cơ chế lãi suất bù đắp chi phí của TCVM.
- Dilin Lim (2009) phân tích thách thức thực tiễn và mô hình thể chế TCVM.
- Ledgerwood Joanna, Julie Earne và Candace (2013) nghiên cứu quản trị và vận hành thị trường tài chính vi mô trong cuốn cẩm nang toàn diện.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Nhóm nghiên cứu kinh tế - xã hội:
- Trần Thọ Đạt (1998) nghiên cứu chi phí giao dịch và thị trường phân tách tại Đồng bằng Sông Hồng.
- Đào Văn Hùng (2000, 2005) phân tích giải pháp tín dụng cho người nghèo và thực trạng phát triển TCVM tại Việt Nam.
- Nguyễn Thị Thanh Hương (2002) nghiên cứu phát triển thị trường tài chính nông thôn trong quá trình chuyển đổi.
- Quách Mạnh Hào (2005) khảo sát mức sống hộ gia đình nông thôn giai đoạn 1992–1998 để đánh giá tiếp cận tài chính.
- McCarty (2001) đánh giá các chương trình TCVM của tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam.
- Nghiêm Hồng Sơn (2006) phân tích năng suất, hiệu quả tài chính nông thôn của các tổ chức phi chính phủ vùng Bắc và Trung Bộ.
- Lê Lân (2003), Lê Lân và Trần Như An (2005) khảo sát cơ hội, thách thức và tính tự vững của ngành TCVM.
- Đỗ Kim Chung, Doãn Hữu Tuệ, Phạm Thị Mỹ Dung nghiên cứu lý luận và khuyến nghị phát triển TCVM.
- Báo cáo Ngân hàng Thế giới (2007) khảo sát bức tranh tài chính nông thôn Việt Nam và việc thực hiện Nghị định 28/2005/NĐ-CP.
- Lê Thanh Tâm (2008), Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013), Nguyễn Đức Hải (2012), Võ Khắc Thường và Trần Văn Hoàng (2013) nghiên cứu tính bền vững, mô hình tổ chức và thị trường TCVM.
Nhóm nghiên cứu dưới góc độ pháp lý:
- Nguyễn Hữu Thanh (2004, 2007) phân tích cơ sở pháp lý và quy chế pháp lý của tổ chức TCVM theo Nghị định 28/2005/NĐ-CP.
- Nguyễn Thái Hà (2009) nghiên cứu hình thức pháp lý, cơ cấu tổ chức và quản trị điều hành của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
- Viên Thế Giang (2011–2013) công bố các bài viết trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Ngân hàng về định hướng hoàn thiện khung pháp lý tổ chức TCVM.
- Hoàng Văn Thành (2012) đánh giá chính sách tổ chức và hoạt động TCVM.
- Trần Văn Duy và Hoàng Văn Thành (2013) nghiên cứu điều kiện thành lập và vướng mắc cơ cấu tổ chức của tổ chức TCVM.
- Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2013) thực hiện đề tài cấp cơ sở về chế độ pháp lý đối với TCVM.
| Nhóm nghiên cứu |
Trọng tâm phân tích |
Tác giả tiêu biểu |
| Quốc tế: Tác động giảm nghèo |
Đánh giá mức độ tiếp cận vốn, giảm nghèo, tính tự vững của TCVM |
ADB, Meyer & Nagarajan (1992), Hulme (1996), Yunus (2003, 2005), Berggren (2012) |
| Quốc tế: Thể chế và chính sách |
Khung thể chế, mô hình tổ chức, quản trị rủi ro, chính sách pháp luật |
Adams (1995), Yaron (1992, 1997), Ledgerwood (1999, 2013), Zeller (2003), Morduch (2008) |
| Việt Nam: Kinh tế - xã hội |
Chi phí giao dịch, hiệu quả hoạt động dự án phi chính phủ, tính bền vững |
Trần Thọ Đạt (1998), Đào Văn Hùng (2000), Quách Mạnh Hào (2005), Lê Thanh Tâm (2008) |
| Việt Nam: Khía cạnh pháp lý |
Quy chế pháp lý, điều kiện thành lập, cơ cấu tổ chức theo Nghị định 28 và Luật TCTD |
Nguyễn Hữu Thanh (2004, 2007), Nguyễn Thái Hà (2009), Viên Thế Giang (2011-2013) |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về pháp luật điều chỉnh tổ chức TCVM tại Việt Nam.
- Làm rõ sự khác biệt giữa khái niệm TCVM, tổ chức TCVM theo thông lệ quốc tế và cách quy định đặc thù trong văn bản pháp luật Việt Nam.
- Giải quyết tình trạng thiếu vắng các luận giải pháp lý cụ thể, thuyết phục nhằm xử lý mâu thuẫn giữa Luật các TCTD 2010 và các nghị định, thông tư ban hành trước năm 2010.
- Kết hợp phương pháp tiếp cận liên ngành luật học và kinh tế học để xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện khung pháp lý về tổ chức TCVM.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết khoa học:
- Học thuyết Mác về kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đất nước (Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 24/4/1956).
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới toàn diện, kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững.
- Quan điểm phát triển hệ thống TCVM theo Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
- Lý thuyết về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp.
- Lý thuyết về TCVM với tư cách là công cụ xóa đói giảm nghèo của Mohammat Yunus.
- Lý thuyết về vận hành thị trường TCVM là bộ phận của thị trường tài chính - ngân hàng và vai trò quản lý của NHNN.
Các khái niệm trọng tâm:
- Tài chính vi mô (luận án định nghĩa): Là hoạt động kinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ tài chính, ngân hàng có giá trị nhỏ cho những chủ thể có thu nhập thấp trong xã hội.
- Tổ chức tài chính vi mô (Khoản 5 Điều 4 Luật các TCTD 2010): Là loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.
- Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô: Là tổng hợp các quy định của pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh toàn bộ quá trình tạo dựng, tồn tại và chấm dứt tổ chức TCVM.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng tại Chương 2 để làm rõ các khái niệm và tại Chương 3 (mục 3.3) để đánh giá thực trạng các quy phạm pháp luật.
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương nhằm rút ra nhận định, kết luận khoa học và xây dựng hệ thống kiến nghị.
- Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng tại mục 2.3 (Chương 2) và mục 4.2 (Chương 4) để phân tích kinh nghiệm quốc tế (Bangladesh, Indonesia, Thái Lan, Costa Rica) và đối chiếu với pháp luật Việt Nam.
- Phương pháp phân tích logic quy phạm: Áp dụng tại Chương 2 và Chương 3 để rà soát tính thống nhất, đồng bộ, phát hiện các điểm mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản quy phạm pháp luật về TCVM.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp luật học với xã hội học (mục 2.2) và luật học với kinh tế học (mục 3) nhằm đánh giá tác động giảm nghèo và thiết lập khung pháp lý kinh doanh cho tổ chức TCVM.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật các TCTD năm 1997, 2004, 2010; Nghị định số 28/2005/NĐ-CP, Nghị định số 165/2007/NĐ-CP, Thông tư số 02/2008/TT-NHNN; Quyết định 2195/QĐ-TTg, Quyết định 131/2002/QĐ-TTg, Quyết định 162/QĐ-NH5.
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê từ NHNN Việt Nam, khảo sát của Chương trình cho vay bền vững hộ nghèo thuộc Ngân hàng Thế giới (SBP/WB), báo cáo của Nhóm công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG 2014) và báo cáo của ADB.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận án
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về TCVM và pháp luật điều chỉnh TCVM. Trên cơ sở phân tích hai nhóm nghiên cứu quốc tế (tác động giảm nghèo và phát triển hoạt động) cùng hai nhóm nghiên cứu trong nước (kinh tế - xã hội và pháp luật), tác giả khẳng định việc nghiên cứu pháp luật về tổ chức TCVM ở quy mô một luận án tiến sĩ luật học tại Việt Nam là chưa có tiền lệ. Chương này xác lập cơ sở lý thuyết, 5 câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp luận và hệ phương pháp nghiên cứu cụ thể làm định hướng cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức tài chính vi mô
Chương 2 phân tích sự hình thành và phát triển của TCVM trên thế giới từ các chương trình tín dụng nông thôn bao cấp giai đoạn 1950–1970 sang mô hình hoạt động kinh doanh bền vững có hoàn trả từ cuối thập niên 1970. Theo khảo sát của SBP (WB), năm 1995 toàn thế giới có khoảng 1.000 tổ chức TCVM tồn tại trên 3 năm phục vụ trên 1.000 khách hàng, đạt khoảng 46 triệu lượt tiết kiệm và 14 triệu lượt cho vay; phân bố tại Châu Á (80%), Châu Mỹ Latinh (15%) và Châu Phi (5%). Các mô hình thành công trên thế giới gồm: Ngân hàng Grameen (Bangladesh), BRAC (Bangladesh), Ngân hàng Làng BRI/BPRs (Indonesia), Bancomunales (Costa Rica), Hợp tác xã tín dụng CULT (Thái Lan) và Ngân hàng BAAC (Thái Lan).
Tại Việt Nam, TCVM manh nha từ năm 1987 qua các dự án tín dụng - tiết kiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ chức phi chính phủ. Đến năm 2015, thị trường cung ứng dịch vụ tài chính cho người nghèo gồm bốn nhóm chủ thể chính:
| Nhóm chủ thể |
Hình thức hoạt động |
Địa vị pháp lý theo pháp luật Việt Nam |
| Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) |
Ngân hàng 100% vốn nhà nước hoạt động vì mục tiêu an sinh |
Ngân hàng chính sách, không phải tổ chức TCVM |
| Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân & NH Hợp tác xã |
Tổ chức tín dụng hợp tác phục vụ thành viên cơ sở |
Loại hình TCTD độc lập, không phải tổ chức TCVM |
| Tổ chức TCVM chính thức |
Cấp phép bởi NHNN (đến 2014 gồm 03 tổ chức: TYM - 2010, M7 - 2012, Thanh Hóa - 2014) |
Tổ chức tài chính vi mô (TCTD theo Luật TCTD 2010) |
| Các chương trình, dự án TCVM phi chính phủ |
Tồn tại dưới dạng Quỹ (M7 Mai Sơn, Dariu, CEP...), Chương trình (Anh Chị Em, Bàn Tay Vàng...), Dự án (VSL Plan, Child Fund), Trung tâm (SEDA, PPC, CWCD) |
Chưa chuyển đổi thành TCTD, hoạt động theo mô hình xã hội - từ thiện |
Chương 2 xác định bốn đặc trưng pháp lý của tổ chức TCVM theo Luật các TCTD năm 2010:
- Là một loại hình TCTD: Tổ chức TCVM là TCTD độc lập bên cạnh ngân hàng, TCTD phi ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân (Khoản 1 Điều 4).
- Đối tượng khách hàng phục vụ: Chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ; phải duy trì tỷ lệ dư nợ bắt buộc cho nhóm đối tượng này theo quy định của NHNN (Khoản 2 Điều 120).
- Hoạt động nghiệp vụ mang tính đặc thù: Chỉ được thực hiện một số hoạt động ngân hàng giới hạn quy định tại Mục 6 Chương 4.
- Hình thức pháp lý bắt buộc: Chỉ được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc hai thành viên trở lên (Khoản 6 Điều 6 và Khoản 1 Điều 87).
Chương 2 cũng phân tích cấu trúc nội dung của pháp luật về tổ chức TCVM bao gồm: quy định xác định tư cách chủ thể; điều kiện, trình tự thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản; cơ cấu tổ chức và quản trị điều hành; và khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh ba nhóm vấn đề:
- Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản tổ chức TCVM: Phân tích các điều kiện cấp phép, chuyển đổi từ các chương trình, dự án phi chính phủ và các rào cản hành chính trong việc gia nhập thị trường.
- Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản trị, điều hành: Đánh giá các quy định về tiêu chuẩn thành viên Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức TCVM trong tương quan với tính chất quy mô nhỏ.
- Hoạt động kinh doanh cơ bản của tổ chức TCVM: Phân tích các giới hạn nghiệp vụ huy động vốn (tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện), cấp tín dụng (hạn mức tín dụng nhỏ không quá 30 triệu đồng theo Thông tư 02/2008/TT-NHNN) và cung ứng dịch vụ thanh toán.
Đánh giá thực trạng: Luận án chỉ ra sự tồn tại khoảng trống pháp lý nghiêm trọng khi Luật các TCTD 2010 đã ban hành nhưng NHNN chưa ban hành thông tư hướng dẫn thi hành về TCVM, khiến việc quản lý vẫn phải dựa vào các văn bản cũ (Nghị định 28/2005/NĐ-CP, Nghị định 165/2007/NĐ-CP, Thông tư 02/2008/TT-NHNN). Điều này dẫn đến việc chỉ có 03 tổ chức TCVM được cấp phép chính thức tính đến tháng 6/2015, hạn chế khả năng chính thức hóa các chương trình, dự án TCVM đang hoạt động rộng khắp.
Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 4 xác lập các quan điểm hoàn thiện pháp luật dựa trên định hướng của Quyết định số 2195/QĐ-TTg, bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu xã hội (giảm nghèo) và mục tiêu kinh doanh bền vững (tự vững tài chính). Các nhóm giải pháp cụ thể gồm:
- Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật các TCTD 2010 về tổ chức và hoạt động của tổ chức TCVM để thay thế các văn bản ban hành trước năm 2010.
- Đơn giản hóa điều kiện và quy trình cấp phép, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để chuyển đổi các chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức phi chính phủ thành tổ chức TCVM chính thức.
- Linh hoạt hóa quy định về hình thức pháp lý và tiêu chuẩn nhân sự quản trị điều hành phù hợp với tính chất đặc thù của TCVM.
- Mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh, điều chỉnh hạn mức tín dụng nhỏ phù hợp với biến động kinh tế thực tế và nhu cầu của khách hàng có thu nhập thấp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về khoa học và lý luận
- Làm rõ nội hàm và sự khác biệt giữa các khái niệm: tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, pháp luật về tài chính vi mô và pháp luật về tổ chức tài chính vi mô trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Xác định bản chất kết hợp giữa mục tiêu kinh doanh và mục tiêu xã hội, làm rõ bốn đặc trưng pháp lý cơ bản của tổ chức TCVM theo Luật các TCTD 2010.
- Xây dựng cơ sở lý luận toàn diện, có hệ thống đối với lĩnh vực pháp luật điều chỉnh tổ chức TCVM tại Việt Nam.
Đóng góp mới về thực tiễn
- Hệ thống hóa và chỉ ra những điểm xung đột, lạc hậu của các văn bản dưới luật (Nghị định 28/2005/NĐ-CP, Nghị định 165/2007/NĐ-CP, Thông tư 02/2008/TT-NHNN) so với Luật các TCTD năm 2010.
- Đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị cụ thể có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về thành lập, quản trị, điều hành và hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM phục vụ Đề án phát triển hệ thống TCVM đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu đối với tổ chức TCVM theo nghĩa hẹp của pháp luật Việt Nam (loại hình TCTD theo Luật các TCTD 2010), không đi sâu nghiên cứu quy chế pháp lý của NHCSXH, Quỹ tín dụng nhân dân hay các tổ chức phi chính phủ chưa đăng ký chuyển đổi.
- Dữ liệu pháp lý và thực tiễn khảo sát dừng lại ở mốc thời gian đến tháng 6/2015, thời điểm NHNN chưa ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành mới cho Luật các TCTD 2010.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực thi của các thông tư hướng dẫn mới của NHNN về tổ chức TCVM sau khi được ban hành.
- Nghiên cứu cơ chế chuyển đổi và quản lý đối với mạng lưới các chương trình, dự án TCVM phi chính thức nhằm thúc đẩy chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Luật: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo về pháp luật ngân hàng, thị trường tài chính và thể chế tài chính vi mô tại Việt Nam; cung cấp khung phân tích so sánh và hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, các cơ quan hoạch định chính sách): Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn trực tiếp cho quá trình soạn thảo, ban hành các thông tư hướng dẫn Luật các TCTD và rà soát cơ chế chuyển đổi các quỹ, chương trình tài chính vi mô.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổ chức tài chính vi mô theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 có những đặc trưng pháp lý cơ bản nào?
Theo Khoản 5 Điều 4 Luật các TCTD 2010, tổ chức TCVM có 4 đặc trưng: (i) Là một loại hình TCTD độc lập; (ii) Phục vụ đối tượng khách hàng chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ; (iii) Thực hiện một số hoạt động ngân hàng đặc thù; (iv) Hình thức pháp lý bắt buộc là công ty TNHH một thành viên hoặc hai thành viên trở lên.
2. Đến năm 2015, Việt Nam có bao nhiêu tổ chức tài chính vi mô được Ngân hàng Nhà nước cấp phép chính thức?
Tính đến tháng 12/2014 và thời điểm nghiên cứu năm 2015, Việt Nam chỉ có 03 tổ chức TCVM chính thức được cấp phép hoạt động gồm: Tổ chức TCVM TNHH MTV TYM (cấp phép 08/2010), Tổ chức TCVM TNHH M7 (cấp phép 01/2012) và Tổ chức TCVM TNHH Thanh Hóa (cấp phép 08/2014).
3. Hạn mức cho vay quy mô nhỏ được quy định như thế nào trong văn bản dưới luật trước năm 2010?
Theo điểm 2.1 Thông tư số 02/2008/TT-NHNN ngày 02/04/2008 của Ngân hàng Nhà nước, khoản tín dụng có giá trị nhỏ được xác định là khoản cho vay có tổng dư nợ đối với một khách hàng không vượt quá 30 triệu đồng.
4. Vì sao các chương trình tín dụng nông thôn bao cấp giai đoạn 1950–1970 được đánh giá là thiếu tính bền vững?
Các chương trình tín dụng nông thôn giai đoạn này mang nặng tính bao cấp với lãi suất cho vay thấp hơn thị trường và tỷ lệ rủi ro thu hồi nợ cao. Do không tạo ra lợi nhuận bù đắp chi phí và bảo toàn vốn, các định chế cho vay không thể tự bảo đảm sự tồn tại nếu thiếu nguồn tài trợ hoặc trợ cấp thường xuyên từ nhà nước.
5. Sự xung đột pháp lý lớn nhất đối với tổ chức tài chính vi mô tại thời điểm năm 2015 là gì?
Luật các TCTD 2010 đã có hiệu lực hơn bốn năm nhưng NHNN chưa ban hành văn bản hướng dẫn thi hành về TCVM; các cơ quan quản lý và tổ chức vẫn phải áp dụng các văn bản dưới luật ban hành từ thời điểm Luật các TCTD 1997 còn hiệu lực (Nghị định 28/2005/NĐ-CP, Nghị định 165/2007/NĐ-CP, Thông tư 02/2008/TT-NHNN).
Kết luận
Luận án "Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu tiến sĩ luật học phân tích có hệ thống khung pháp lý điều chỉnh tổ chức TCVM tại Việt Nam. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý của tổ chức TCVM và chỉ ra sự bất cập của các văn bản dưới luật hiện hành trong giai đoạn chuyển tiếp từ Luật các TCTD 1997 sang Luật các TCTD 2010. Các kiến nghị được xây dựng trên cơ sở kết hợp nghiên cứu liên ngành và kinh nghiệm quốc tế, đóng góp luận cứ khoa học thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế tài chính vi mô tại Việt Nam.