Chương 1 giới thiệu, luận văn sẽ trình bày 3 chương tiếp theo. Chương 2: Trình bày các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm gần ñây trên thế giới làm cơ sở cho phân tích thực nghiệm và so sánh ñối chiếu với nghiên cứu này; Chương 3: Trình bày mô hình nghiên cứu và phân tích các kết quả , rút ra những kết luận trả lời các mục tiêu ñặt ra của nghiên cứu; Chương 4: Tập trung phân tích tình hình phát triển tài chính Việt Nam và ñưa ra bài học chính sách mang tính gợi ý ñể phát triển hệ thống tài chính Việt Nam. 7 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 2.1 Các khái niệm về tài chính và tăng trưởng kinh tế 2.1 Hệ thống tài chính Theo Nguyễn Trọng Hoài (2006), Hệ thống tài chính ñược cấu thành từ các bộ phận gồm: tổ chức tài chính, cơ sở hạ tầng tài chính, công cụ tài chính và thị trường tài chính. - Thị trường tài chính: là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp ñến nơi có nhu cầu về vốn cho các hoạt ñộng kinh tế.
Một hệ thống thị trường tài chính hoàn chỉnh phải bao gồm hệ thống thị trường tiền tệ hoạt ñộng chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước và các công ty tài chính và thị trường vốn, trong ñó thị trường chứng khoán giữ vai trò quan trọng. + Thị trường tiền tệ: là nơi mua bán các công cụ nợ ngắn hạn. Các công cụ nợ ngắn hạn lưu hành trên thị trường tiền tệ do Nhà nước, các ngân hàng, các công ty lớn phát hành, có ñặc ñiểm là tính thanh khoản cao, rủi ro thanh toán thấp. + Thị trường vốn: là nơi các công cụ nợ, công cụ vốn trung và dài hạn do các doanh nghiệp hay Chính phủ phát hành ñược trao ñổi mua bán, chuyển nhượng theo quy ñịnh của pháp luật.
Thị trường vốn chủ yếu giao dịch các loại trái phiếu dài hạn và cổ phiếu. - Tổ chức tài chính hay trung gian tài chính bao gồm các ñịnh chế gắn liền với ñặc trưng cơ bản là thực hiện chức năng trung gian trong việc cung cấp vốn và các dịch vụ tài chính trên thị trường tài chính. Các ñịnh chế trung gian 8 gồm: ngân hàng (gồm Ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại và ngân hàng ñầu tư), công ty bảo hiểm, các quỹ ñầu tư, công ty tài chính. - Công cụ tài chính: Theo Wikipedia, the free encyclopedia thì công cụ tài chính là tiền mặt hay chứng nhận quyền sở hữu ñối với một thực thể hay quyền ñảm bảo bằng hợp ñồng nhận, phân phối tiền hay công cụ tài chính khác.
Có rất nhiều cách phân loại công cụ tài chính, phân theo công cụ tương ñương tiền gồm: các loại chứng khoán, các khoản vay và tiền gửi và công cụ phái sinh; và phân theo quyền tài sản gồm: chứng khoán vốn, chứng khoán nợ (ngắn hạn, dài hạn). Những công cụ tài chính thông dụng ñược giao dịch trên thị trường tài chính là cổ phiếu, trái phiếu và tín phiếu. - Cơ sở hạ tầng tài chính: Theo ñịnh nghĩa của IFC1, cơ sở hạ tầng tài chính là tập hợp các ñịnh chế cho phép các trung gian tài chính hoạt ñộng hiệu quả, nó bao gồm các nhân tố như hệ thống thanh toán, cơ quan thông tin tín dụng, và ñăng ký thế chấp, cầm cố. Rộng hơn, cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm sự tồn tại của khung luật pháp và quy ñịnh cho khu vực tài chính hoạt ñộng.2 Phát triển tài chính theo chiều sâu và áp chế tài chính Kitchen (1995), viết về những khái niệm về phát triển tài chính theo chiều sâu và kiềm chế tài chính dựa trên những nghiên cứu của Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973): Phát triển tài chính theo chiều sâu có nghĩa là “tích lũy các tài sản tài chính nhanh hơn tích lũy các tài sản phi tài chính”.
Phát triển tài chính theo chiều sâu ñược ño lường thông qua các tỉ số: Tổng cung tiền rộng trong nền kinh tế so với GDP, Tín dụng cấp cho khu vực tư nhân so với GDP và Tổng tài sản 1 Công ty Tài chính quốc tế - Ngân hàng thế giới ñịnh nghĩa tại ñịa chỉ http://www.org/ifcext/gfm.nsf/content/financialInfrastrusture. 9 của hệ thống ngân hàng thương mại so với tổng tài sản của ngân hàng trung ương; các tỉ số này càng lớn thì nền tài chính phát triển càng sâu. Theo quan ñiểm của P. Samuelson2, thì M2 gồm: tiền pháp ñịnh, tiền gởi không kỳ hạn hay tiền gởi thanh toán có thể phát hành séc, séc du lịch, các loại tiền gởi có kỳ hạn loại nhỏ, tiền gởi tiết kiệm, các chứng từ nợ ngắn hạn, tiền gửi trên thị trường tiền tệ ngắn hạn,.3 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân ñầu người hoặc thu nhập bình quân ñầu người (Per Capita Income, PCI).
Theo ðinh Phi Hổ và các ñồng tác giả (2006): Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng ñược sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một nước trong một thời gian nhất ñịnh (thường là một năm ). Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng ñược tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất ñịnh (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập nhân tố ròng từ nước ngoài (Net Factor Income From Abroad). Tăng trưởng kinh tế là phần trăm gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân ñầu người trong một thời gian nhất ñịnh.
Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay ñổi về lượng của nền kinh tế và cũng là ñiều kiện cần ñể tiến tới thay ñổi về chất của nền kinh tế. 2 Trích theo Nguyễn ðình Thành, Vũ Thị Minh Hằng (2006), Nhập môn tài chính- tiền tệ, trang 145.2 Lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 2.1 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Lý thuyết Keynes (1936) và Tobin (1965) ủng hộ quan ñiểm áp chế tài chính, cho rằng tiền gây ra tác ñộng xấu ñến tăng trưởng kinh tế. Trong khi lý thuyết ủng hộ tự do hóa tài chính do McKinnon, Shaw (1973) phát triển cho rằng tài chính ñóng góp ñáng kể cho tăng trưởng kinh tế. ðiểm then chốt của những tranh cãi này xoay quanh tác ñộng của hệ thống tài chính lên tăng trưởng kinh tế, trọng ñiểm là tác ñộng của nó lên hành vi tiết kiệm của các cá nhân.
i) Quan ñiểm áp chế tài chính: Fry (1988) ñề cập lý thuyết áp chế tài chính của Keynes - Tobin như sau: Mô hình Keynes (1936) dựa trên nền tảng nền cân bằng vĩ mô và nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng và cầu tiền nhạy cảm với thay ñổi trong lãi suất. Ông cho rằng nếu không quản lý tiền thận trọng có thể sẽ gây phá huỷ nghiêm trọng ñến tăng trưởng kinh tế. “Bẫy thanh khoản” của Keynes cho rằng phải thiết lập mức lãi suất trần danh nghĩa. Nếu bẫy thanh khoản ñược lấp kín lãi suất thực sẽ vượt mức cân bằng toàn dụng.
Bẫy thanh khoản là trạng thái mà tiết kiệm kế hoạch/thu nhập ở mức toàn dụng vượt quá ñầu tư kế hoạch. Sự mất cân bằng này ñươc giải quyết bằng cách giảm thu nhập thực và dẫn ñến giảm trong tiết kiệm kế hoạch. Mô hình Keynes giản ñơn có thể tóm tắt cơ chế như sau: có ñộng cơ tự ñiều chỉnh khi có sự thay ñổi trong lợi suất có ñược trên hai loại tài sản cạnh tranh là tiền và vốn, giả ñịnh là mức giá cố ñịnh và tương lai mức giá cũng không ñổi. Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ là giảm lãi suất và làm gia tăng sở thích giữ tiền mặt.
Khi chính quyền áp dụng trần lãi suất, ñầu tư có thể vẫn tăng 11 lên do trần lãi suất vẫn thấp hơn lãi suất thực cân bằng. Mô hình này không tính ñến hậu quả lạm phát có thể xảy ra khi thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ. Keynes cũng ñề nghị một mức thuế ñánh trên việc giữ tiền bằng mức chênh lệch giữa mức lãi suất cân bằng thực và mức lãi suất cân bằng toàn dụng tại ñó ñầu tư ñúng bằng tiết kiệm. Một quan ñiểm lý thuyết về áp chế tài chính khác do Tobin (1965) phát triển dựa trên mô hình quan hệ giữa tiền và tăng trưởng kinh tế.
Giả ñịnh các hộ gia ñình phân phối tiền bằng cách giữ tiền và ñầu tư vào tài sản vốn. Lợi suất trên việc ñầu tư vào tài sản vốn càng cao thì tiền ñầu tư vào nó càng cao. ðiều này sẽ làm tỷ lệ K/L tăng và vì thế sẽ làm tăng thu nhập Y trên ñầu người. Tăng trưởng kinh tế ñược thực hiện khi tỉ lệ K/L từ mức thấp sang mức cao hơn, ñiều này xảy ra khi lợi tức trên việc giữ tiền giảm và làm tăng phúc lợi chung.
Chính sách tác ñộng là hạ lãi suất tiền gửi hay ñánh thuế lên viêc giữ tiền hay ñơn giản là khuyến khích ñầu tư bằng cách gia tăng lạm phát. Các gợi ý chính sách này khá phù hợp với các nước ñang phát triển và ñược nhiều nước áp dụng trong giai ñoạn sau chiến tranh thế giới thứ II. Hiện nay, vẫn còn nhiều nước ñang phát triển vận dụng lý thuyết này trong một số giai ñoạn ñặc biệt của nền kinh tế. ii) Quan ñiểm tự do hoá tài chính: Theo Fry(1988), lý thuyết phát triển tài chính tác ñộng tích cực ñến tăng trưởng kinh tế của McKinnon và Shaw (1973) tóm lược như sau: Phân tích chính của McKinnon là làm thế nào lãi suất thực ảnh hưởng lên tiết kiệm, ñầu tư và tăng trưởng kinh tế dựa trên mô hình tiền bên ngoài.
Mô hình dựa trên hai giả ñịnh: (a) tất cả các chủ thể kinh tế ñều tự tài trợ; và (b) ñầu tư ñược xem như là nhân tố quan trọng, không thể tách rời với tiêu dùng trong cơ cấu chi tiêu. Nhà ñầu tư tiềm năng phải tích luỹ tiền cân ñối dưới dạng ưu tiên 12 cho ñầu tư. ðiều này cũng giống như ñộng cơ tài chính của Keynes (Keynes 1937; Tsiang 1980a). Chi phí cơ hội của việc tích luỹ tiền dưới dạng cân bằng thấp hơn hoặc gửi ngân hàng với lãi cao hơn sẽ khích thích ñầu tư.