Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận, hạn chế của đề tài và gợi mở nghiên cứu. Tổng quan lý thuyết. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để quan sát mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tuy nhiên kết quả của các bài nghiên cứu không có ý kiến chung về mối quan hệ này. Có 3 trường phái chính đại diện cho ý kiến của các nhà kinh tế về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: 2.1 Trường phái thứ 1: Cho rằng phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế.
King và Levine (1993) với nghiên cứu “Tài chính và tăng trưởng: Schumpeter có thể đúng” trong cuốn Tạp chí kinh tế theo quý đã sử dụng dữ liệu trên 80 quốc gia trong giai đoạn 1960 đến 1989 để nghiên cứu về mối quan quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính. Trong đó biến GDP thực tế bình quân đầu người đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế và 4 biến đại diện cho biến phát triển tài chính lần lượt là tỷ lệ nợ thanh khoản so với GDP, tỷ lệ tài sản ngân hàng so với tài sản ngân hàng cộng tài sản ngân hàng trung ương, tỷ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính so với tổng tín dụng nội địa, tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân phi tài chính so với GDP. Tác giả sử dụng phép hồi qui cho dữ liệu bảng, kết quả cho thấy có sự tương quan mạnh mẽ do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế (trong đó chỉ có 3 biến đại diện cho biến phát triển tài chính lần lượt là tỷ lệ tài sản ngân hàng so với tài sản ngân hàng cộng tài sản ngân hàng trung ương, tỷ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính so với tổng tín dụng nội địa, tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân phi tài chính so với GDP là có ý nghĩa trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế), ngoài ra King và Levine còn kết luận rằng Schumpeter có thể đúng về việc nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường tài chính đối với tăng trưởng kinh tế, nói cách khác các nước có hệ thống tài chính phát triển hơn thì tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. Ahmeda và Ansarib (1998) với nghiên cứu “ Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: Kinh nghiệm ở Nam Á” trong cuốn Tạp chí kinh tế ở Châu Á đã lấy dữ liệu ở 3 nước 6 Nam Á là Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka để chạy hồi quy phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Kết quả cho thấy có mối quan hệ nhân quả 1 chiều do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế đồng thời nhấn mạnh phát triển tài chính đã thực sự góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế ở các nước này. Dimitris và Efthymios (2004) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: bằng chứng từ kiểm định nghiệm đơn vị dạng bảng và kiểm định đồng liên kết dạng bảng” trong cuốn Tạp chí phát triển kinh tế đã thực hiện nghiên cứu bằng cách sử dụng dữ liệu của 10 nước đang phát triển từ năm 1970 đến 2000 với biến sản lượng đầu ra thực tế được đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế và biến phát triển tài chính được đo lường bằng tỷ lệ tiền gửi ngân hàng so với tổng GDP danh nghĩa và vốn đầu tư. Tác giả sử dụng dữ liệu bảng cho kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định mối quan hệ đồng liên kết, sau đó chạy mô hình VECM cho ra kết quả có mối quan hệ nhân quả 1 chiều từ phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Tsangyao và Steven (2005) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: trường hợp ở Đài Loan” cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng dữ liệu ở Đài Loan từ năm 1962 đến 1998, với biến GDP thực tế bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ M2 so với GDP đại diện cho phát triển tài chính.
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình VECM cho thấy có mối quan hệ nhân quả một chiều do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển tài chính trong việc tăng trưởng của Đài Loan. Eita và Jordaan (2007) với nghiên cứu “Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đối với Botswana” đã sử dụng dữ liệu ở Botswana từ năm 1977 đến 2006 với biến GDP thực tế bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế còn biến phát triển tài chính lần lượt đại diện bởi 3 biến là tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng so với GDP, tỷ lệ M2 so với GDP, tỷ lệ nợ tiền gửi ngân hàng so với GDP để nghiên cứu. Tác giả cũng thực hiện kiểm 7 định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết, sau đó chạy mô hình VECM cho ra kết quả có mối quan hệ nhân quả 1 chiều từ phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế và kết luận rằng lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển ở Botswana. Wadud (2009) với nghiên cứu “ Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: mối quan hệ đồng liên kết và mô hình VECM tiếp cận với các quốc gia Nam Á” sử dụng dữ liệu ở 3 nước Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh từ năm 1976 đến 2008 với biến tỷ lệ M2 so với GDP thực tế đại diện cho biến phát triển tài chính và biến tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng biến GDP thực tế bình quân đầu người để tìm ra mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Bài nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, đồng thời chạy mô hình VECM cho kết quả có một mối quan hệ ổn định giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế của các nước này và có mối quan hệ nhân quả 1 chiều từ phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế.2 Trường phái thứ 2: Cho rằng tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính. Hurlin và Venet (2001) với nghiên cứu “Kiểm định nhân quả trong mô hình dữ liệu bảng với hệ số cố định” để tìm ra câu trả lời cho mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đã sử dụng dữ liệu từ năm 1967 đến 1998 cho 16 quốc gia ở Châu Phi và sử dụng biến GDP thực tế bình quân đầu người để đo lường biến tăng trưởng kinh tế, biến phát triển tài chính được đo lường lần lượt bằng 2 biến là tỷ lệ M2 so với GDP, tỷ lệ tín dụng của ngân hàng cho khu vực tư nhân so với GDP. Tác giả chạy mô hình VAR cho kết quả không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong 7 quốc gia, tuy nhiên tác giả lại tìm thấy mối quan hệ nhân quả 1 chiều do tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính ở các nước còn lại. 8 Odhiambo (2004) với nghiên cứu “Phát triển tài chính có còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế? Một bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ này ở Nam Phi”.
Trong một thời gian dài mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều được giả định rằng sự phát triển tài chính rất quan trọng và nó là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Với nghiên cứu của mình Odhiambo đã thực hiện mô hình VECM cho các nước ở Nam Phi cùng với việc sử dụng GDP thực tế đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế và biến phát triển tài chính được đo lường bằng 3 dữ liệu khác nhau. Kết quả đưa ra một cái nhìn mới về mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Nam Phi là tồn tại mối quan hệ nhân quả do tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính. Sindano (2009) với nghiên cứu “Sự chỉ dẫn mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Namibia” đã sử dụng dữ liệu từ năm 1993 đến 2007 cùng với biến tăng trưởng kinh tế được đại diện bởi tổng sản lượng trong nước, biến phát triển kinh tế được đại diện lần lượt bởi M2 và tín dụng khu vực tư nhân để chạy mô hình VECM.
Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính trong mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Namibia.3 Trường phái thứ 3: Cho rằng có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Patrick (1966) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các nước kém phát triển” đã đưa ra kết quả khá đa dạng. Patrick thừa nhận rằng mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không chỉ theo chiều tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính mà còn theo chiều ngược lại. Nghĩa là giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả hai chiều.
Kết luận của Patrick cho rằng trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng kinh tế thì hiện tượng phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế chiếm ưu thế, sau đó nền kinh tế tăng trưởng theo xu hướng tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính và tăng mạnh. 9 Jung (1986) trong nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: bằng chứng quốc tế” đã sử dụng dữ liệu của 56 quốc gia với GNP thực tế bình quân đầu người được sử dụng để đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế và biến phát triển tài chính được đại diện bởi 2 biến là tỷ lệ tiền tệ trên GNP, tỷ lệ của M2 trên GNP. Kết quả cho thấy có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính. Nhưng khi chia 56 quốc gia thành 2 nhóm nước phát triển và kém phát triển kết quả cho thấy ở nhóm nước kém phát triển tồn tại mối quan hệ nhân quả 1 chiều do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế.