phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: C h u o n g 1: Cơ sở lý luận về an toàn vốn theo Hiệp ước Basel II; C h ư ơ n g 2: Thực trạng áp dụng tiêu chuẩn an toàn vốn theo Hiệp ước Basel II tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam C h ư o n g 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm áp dụng tiêu chuẩn an toàn vốn theo Hiệp ước Basel II tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam. -6 - CHƯƠNG1 C O S Ở L Ý L U Ậ N V È A N T O À N V Ố N T H E O H I Ệ P Ư Ớ C B A S E L II 1. Q U Á T R Ì N H R A Đ Ờ I H I Ệ P Ư Ớ C B A S E L II Úy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS) được thành lập vào năm 1975 tại thành phố Basel - Thụy Sỹ, với cơ cấu đầu tiên gồm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của nhóm 10 nước phát triển (G10) nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Đây là cơ quan thiết lập những tiêu chuẩn mang tính toàn câu trong quy định đảm bảo an toàn của các ngân hàng, đồng thời cơ quan này cũng cung cấp diễn đàn họp tác, trao đổi về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.
Tính tới tháng 7/2013, ủy ban Basel với số lượng thành viên được mở rộng là 27 nước, ủy ban Basel tổ chức họp định kỳ 3-4 lần mỗi năm với sự tham gia của đại diện các nước thành viên, các tổ chức giám sát. Ket quả của những cuộc họp sẽ được báo cáo tới Nhóm thống đốc ngân hàng trung ương và người đứng đầu cơ quan giám sát (GHOS). Các quyết định của ủy ban Basel không có hiệu lực pháp luật mà chỉ được thực hiện trên cơ sở đồng thuận của các quốc gia thành viên - tức là Úy ban đề ra các tiêu chuẩn, hướng dẫn thực hiện đồng thời khuyến khích việc áp dụng ở các nước thành viên và không phải thành viên của ủy ban. ủy ban Basel được nhóm họp 04 lần trong một năm, không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của Uỷ ban này không có tính pháp lý, bắt buộc tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng.
Thay vào đó, ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn, nhũng hướng dẫn giám sát rộng rãi cho hệ thống ngân hàng của các quốc gia. Thành tựu lớn nhất của ủy ban Basel là việc đưa ra các Hiệp ước vốn thường được gọi là: Basel I, Basel II, Basel III. Năm 1988, BCBS đã giới thiệu một khung quản trị rủi ro tín dụng (Basel I), xác định các tiêu chuẩn về vốn đế hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính. Đe đáp ứng yêu cầu phát triển liên tục của ngành -7 - ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi và một hiệp ước về vốn mới (Basel II) được ban hành vào tháng 06 năm 2004 để cải tiến việc đo lường và kiếm soát rủi ro sao cho phù hợp vơi những đổi mới tài chính nhằm nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.
Với Basel II, ủ y ban Basel đã từ bỏ phương pháp luận “một kích thước phù họp với tất cả” (“one size fits all”) của Basel I về việc tính toán yêu cầu vốn pháp định nhỏ nhất và giới thiệu khái niệm “3 trụ cột” (“three pillar concept”) - (1) Những yêu cầu vốn tối thiểu (trên cơ sở kế thừa Basel I), (2) Quy trình kiểm tra kiểm soát của Cơ quan giám sát, (3) Nguyên tắc thị trường. Với cách tiếp cận dựa trên ba Trụ cột chính, Basel II đã đưa ra những nguyên tắc mới bổ sung cho những điểm hạn chế về quản lý hoạt động ngân hàng trong Basel I. (1 ) T r ụ c ộ t 1 - N h ữ n g y ê u c ầ u v ố n tố i th iểu : Trụ cột 1 liên quan đến việc duy trì một lượng vốn tối thiểu để bù đẳp ba thành phần rủi ro mà ngân hàng đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Theo đó, hệ số an toàn vốn (CAR) tối thiểu vẫn là 8% như Basel I.
Tuy nhiên, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ và hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro hoạt động. Hệ số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0% - 150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng. (2 ) T r ụ c ộ t 2 - Q u y tr ìn h k iể m tr a k iể m s o á t c ủ a C ơ q u a n g iá m sá t: Quy trình kiểm tra kiểm soát trong Basel II không chỉ nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ vốn để chống đỡ lại tất cả các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn nhằm khuyến khích các ngân hàng phát triển và sử dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn. Trụ cột 2 đề cập 04 nguyên tắc căn bản của quy trình kiểm tra kiểm soát của cơ quan giám sát nhăm hướng dân quản lý rủi ro, như rủi ro lãi suât trong sô ngân -8 - hàng, rủi ro tín dụng (kiểm tra sức kháng cự, định nghĩa về tình trạng vỡ nợ, rủi ro còn lại, rủi ro tập truna tín dụng), rủi ro hoạt động: Thử nhất, ngân hàng nên có quy trình đánh giá mức độ an toàn vốn trong môi liên hệ với các đặc điểm rủi ro của ngân hàng và có một chiến lược để duy trì an toàn vốn.
Thứ hai, các cơ quan giám sát cần kiểm tra, đánh giá các chiến lược và công tác đánh giá mức an toàn vốn nội bộ của các ngân hàng, cũng như khả năng của các ngân hàng trong việc giám sát và đảm bảo sự tuân thủ quy định về các tỷ lệ vốn. Các cơ quan giám sát cần phải có những động thái xử lý phù họp nếu các ngân hàng không hài lòng với kết quả của quy trình đánh giá. Thử ba, các cơ quan giám sát nên yêu cầu các ngân hàng duy trì các tỷ lệ an toàn vôn ở mức cao hơn các tỷ lệ vốn quy định tối thiểu và phải có khả năng yêu cầu các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu. Thứ bổn, các cơ quan giám sát cần phải có biện pháp can thiệp ngay ở giai đoạn đầu tiên để ngăn không cho mức vốn bị giảm xuống dưới mức tối thiểu để giải quyết những thuộc tính rủi ro của một ngân hàng nhất định và cần có hành động giải quyết ngay lập tức nếu vốn không duy trì và khôi phục được.
(3 ) T r ụ c ộ t 3 - N g u y ê n tắ c th ị tr ư ờ n g : Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách minh bạch theo nguyên tắc thị trường. Hiệp ước Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin: từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vôn đên những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. Đồng thời, ủy ban Basel cũng đã tìm cách để đảm bảo răng Hiệp ước Basel II tương ứng với các chuẩn mực kế toán và trên thực tế, không xung đột với các tiêu chuẩn về công khai thông tin kế toán rộng hơn mà các ngân hàng phải tuân thủ. Như vậy, Basel II ra đời giúp nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thông ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân -9- hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.
N Ộ I D U N G T IÊ U C H U Ẩ N V È A N T O À N V Ó N T H E O H IỆ P Ư Ớ C B A S E L II 1. X á c đ ịn h h ệ số a n to à n v ố n (C A R ) tố i th iể u 1. Quy định về hệ số an toàn vốn (CAR) tối thiểu Các NHTM cần phải duy trì hệ số an toàn von (CAR) trên mức tối thiếu - tức là tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro (bao gồm cả nội và ngoại bảng được điều chỉnh theo các mức độ rủi ro khác nhau) vẫn giữ nguyên yêu cầu về vốn theo Basel Ẹ đồng thời cơ quan giám sát của từng quốc gia có the chủ động trong việc đưa ra các mức cao hơn mức an toàn vốn tối thiểu. Tuy nhiên, Basel II đưa ra công thức xác định CAR trong đó bao gồm cả mức vốn cần thiết để bù đắp cho rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.
Đồng thời Basel II đưa ra không chỉ một mà nhiều phương pháp đo lường rủi ro để các NHTM lựa chọn. V ốn cấp 1 + V ốn cấp 2 + v ố n cấp 3 C A R = ---------------------------------------------------- — ----------------- ------------------------------------------- T à i sả n “ c ó ” r ủ i ro (R R tín d ụ n g ) + 12 ,5 X v ố n tố i th iể u đ ể b ù đ ắ p R R th ị tr ư ờ n g v à R R h o ạ t đ ộ n g Hệ số an toàn vốn (CAR) tối thiểu không thấp hơn 8%, vốn cấp 2 tối đa bằng 100% vốn cấp 1, vốn cấp 3 bị giới hạn đến 250% phần vốn cấp 1 được sử dụng để phòng ngừa rủi ro thị trường. Quy định về thành phần của vốn tự có a.