chương 1 còn đưa ra một số bài học kinh nghiệm của một số NHTM trong nước trong việc tăng vốn của mình. Từ đó, giúp VCB có cái nhìn tổng quát cho định hướng tăng vốn của mình trong thời gian tới. Mục đích của chương một là đưa ra một cái nhìn tổng quát về khái niệm cơ bản của huy động vốn. Nó là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng năng lực huy động vốn của ngân hàng ở chương 2 cũng như việc vận dụng những bài học kinh nghiệm trên thế giới để từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao năng lực huy động vốn của VCB ở chương 3.
Luận văn thạc sĩ - GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh Trang 15 Chương 2 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HUY ĐỘNG VỐN CỦA VIETCOMBANK 2.1 Tổng quan về hoạt động huy động vốn của ngành Ngân hàng Việt Nam hiện nay: 2.1 Sự phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam hiện nay: Trong thời gian qua, Ngành ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng và quy mô hoạt động. a) Về số lượng: Ngành ngân hàng là ngành có tính đặc thù và được đánh giá là có mức độ cạnh tranh cao. Trong những năm qua, ngành ngân hàng có sự tăng trưởng nhanh chóng. Số lượng ngân hàng tăng từ 9 ngân hàng trong năm 1991 lên 80 ngân hàng vào năm 2007 gồm 5 ngân hàng thương mại quốc doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 33 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 ngân hàng liên doanh.
Số lượng ngân hàng tăng thêm tập trung vào hai khối ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho thấy sức hấp dẫn của ngành Ngân hàng Việt Nam.1 : Số lượng ngân hàng giai đoạn 1991 – 2007 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2005 2006 2007 Ngân hàng TMQD 4 4 4 5 5 5 5 5 5 Ngân hàng TMCP 4 41 48 51 48 39 37 37 37 Chi nhánh NHNN 0 8 18 24 26 26 29 31 33 Ngân hàng liên doanh 1 3 4 4 4 4 4 5 5 Tổng số ngân hàng 9 56 74 84 83 74 75 78 80 Nguồn : SBV, Deutsche Bank Trên thực tế, việc thành lập ngân hàng mới phải đáp ứng những quy định khắc khe. Tuy nhiên, sức hấp dẫn về tiềm năng tăng trưởng và lợi nhuận của ngành ngân hàng đã khiến nhiều tổ chức trong và ngoài nước tham gia thành lập ngân hàng mới. Trong năm 2007, có hơn 30 hồ sơ và đề nghị xin Luận văn thạc sĩ - GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh Trang 16 thành lập ngân hàng mới từ các doanh nghiệp lớn như: Tập đoàn Bảo hiểm Bảo Việt, Tập đoàn Dệt may, Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Bia rượu Hà Nội. Hiện nay, NHNN đã cấp phép hoạt động cho Ngân hàng Liên Việt (vốn điều lệ 3.000 tỷ VND) và Ngân hàng Tiên Phong (vốn điều lệ 1.000 tỷ VND), đồng thời cũng chấp thuận nguyên tắc đối với Ngân hàng Bảo Việt và Ngân hàng Dầu khí.
Đối với đề nghị của các tổ chức khác nhiều khả năng sẽ khó thực hiện do Chính phủ lo ngại về việc đầu tư dàn trải sang lĩnh vực khác của các Tập đoàn kinh tế. Đặc biệt, kể từ ngày 01/04/2007, theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam chính thức cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Do đó, tính đến cuối năm 2007, NHNN đã tiếp nhận 5 hồ sơ xin thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và 19 hồ sơ xin cấp phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Kết luận: Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các ngân hàng đã khiến cho ngành Ngân hàng trở thành ngành có mức độ cạnh tranh rất cao. Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài đã làm thu hẹp thị phần của các ngân hàng trong nước.
Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh giữa các khối ngân hàng trong nước ngày càng gay gắt, đặc biệt là áp lực cạnh tranh giữa khối Ngân hàng thương mại quốc doanh và khối ngân hàng thương mại cổ phần trong thời gian gần đây. b) Về quy mô hoạt động: Biểu đồ 2.1: So sánh số lượng chi nhánh của một số ngân hàng năm 2007 (Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các ngân hàng) Luận văn thạc sĩ - GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh Trang 17 Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô hoạt động của các NHTM tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Các NHTM không chỉ phát triển các chi nhánh ở các khu đô thị, khu đông dân cư mà còn mở rộng ở các vùng nông thôn, phường xã. Có thể thấy, một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng của khối NHTMQD so với NHTMCP và NHNN&LD đó chính là mạng lưới hoạt động.
Hệ thống mạng lưới của các NHTMQD đã được phát triển từ lâu và bao phủ khắp trên cả nước. Đặc biệt là hệ thống chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có mặt đến từng xã trên các địa bàn. Cùng với thương hiệu lớn, hệ thống mạng lưới của các NHTMQD đã giúp các ngân hàng này duy trì thị phần chi phối trên các mảng hoạt động chính như huy động vốn và tín dụng trong thời gian qua. Tuy nhiên, các NHTMCP đang nỗ lực trong việc mở rộng mạng lưới, đặc biệt là các ngân hàng đứng đầu như ACB, STB, TCB… Tốc độ phát triển mạng lưới của các ngân hàng này rất nhanh và có trọng điểm.
Mạng lưới của các NHTMCP tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn, các khu đô thị có mức sống cao do đó các chi nhánh này thường có hiệu quả tốt ngay từ khi đi vào hoạt động.2 Tốc độ tăng trưởng về huy động vốn của các NHTM so với các nước trong khu vực: Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô, hoạt động tín dụng và huy động vốn của hệ thống ngân hàng cũng tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2007, tổng tài sản toàn hệ thống đã tăng lên hơn 1.500 ngàn tỷ đồng tương đương hơn 130% GDP 2007. Sự tăng trưởng hệ thống tập trung vào hai mảng hoạt đông truyền thống là cho vay và huy động.2: Tăng trưởng tiền gửi giai đoạn 2002 – 2007 (Nguồn: IMF, Tổng cục thống kê) Luận văn thạc sĩ - GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh Trang 18 Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng và huy động tiền gửi ở mức rất cao, đạt trung bình trên 35%/năm trong suốt giai đoạn 2002 – 2007. Đặc biệt trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động tiền gửi cao hơn nhiều lần so với tốc độ tăng trưởng GDP thực tế.
Điều đó cho thấy, mức độ phát triển rất nhanh chóng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Có thể thấy rõ khi tốc độ tăng trưởng tiền gửi của Việt Nam tăng nhanh qua các năm và đạt 50% vào cuối năm 2007. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn ở mức thấp hơn so với mức trung bình trong khu vực. Dự báo trong thời gian tới, tốc độ tăng trưởng hoạt động này sẽ chậm lại nhưng vẫn ở mức cao gấp hai lần so với tốc độ tăng GDP thực tế.3: So sánh tỷ lệ huy động/GDP năm 2007 (Nguồn: ADB, BVSC) Bên cạnh đó, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ có tiềm năng tăng trưởng mạnh cùng với sự tăng trưởng kinh tế.
Theo IMF, số lượng tài khoản ngân hàng tại Việt Nam trong năm 2006 chỉ ở mức hơn 8 triệu tài khoản chiếm khoảng 9,4% dân số và tập trung chủ yếu vào những đối tượng có thu nhập cao tại các khu đô thị và các doanh nghiệp. Phương thức thanh toán tiền mặt vẫn là phương thức thanh toán khá phổ biến. Mặc dù tỷ lệ tiền mặt/Tổng phương tiện thanh toán (m2) có xu hướng giảm dần nhưng tỷ lệ này của Việt Nam vẫn là cao nhất trong khu vực Kết luận: Qua những phân tích trên, có thể thấy ngành Ngân hàng ở Việt Nam hiện nay mở ra nhiều cơ hội mới nhưng cũng đầy thách thức rủi ro. So với các nước trong khu vực, ngành Ngân hàng Việt Nam phát triển rất Luận văn thạc sĩ - GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh Trang 19 nhanh và có tiềm năng tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.
Tuy nhiên, ngành ngân hàng hiện nay gặp nhiều khó khăn do nền kinh tế thế giới khủng hoảng trầm trọng, thị trường vốn chưa phát triển đầy đủ, mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng cá nhân tại Việt Nam còn thấp và phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro hoạt động.3 Tiềm năng phát triển: Biểu đồ 2.4: Dự báo tăng trưởng tín dụng và huy động vốn đến năm 2012 (Nguồn : ADB, BMI, BVSC) Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng các chỉ tiêu tiền gửi/GDP của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình của các nước trong khu vực, chỉ đạt 78% vào cuối năm 2006. Điều này cho thấy, tiềm năng phát triển về huy động vốn của Ngân hàng còn khá cao. Nếu VCB có những chiến lược và giải pháp thích hợp sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi khá lớn trong thời gian tới.4 So sánh thị phần huy động vốn của các NHTM Việt Nam hiện nay: Trong tình hình suy giảm kinh tế thế giới và lạm phát trong nước hiện nay, tình hình huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Các ngân hàng tìm mọi phương pháp để thu hút khách hàng và giành thị phần huy động vốn về mình.
Từ đó, có sự phân chia rõ ràng về thị phần giữa các khối ngân hàng gồm khối NHTMQD, NHTMCP và khối NHNN&LD. Luận văn thạc sĩ - GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh Trang 20 Biểu đồ 2.5: So sánh thị phần huy động giai đoạn 2005 – 2007 (Nguồn : ADB, BMI, BVSC) Khối NHTMQD : hiện nay vẫn đang chiếm thị phần chi phối trên các mảng hoạt động chính. Tuy nhiên thị phần của khối này đang có xu hướng thu hẹp do có sự cạnh tranh mạnh mẽ từ khối NHTMCP và NHNN&LD. Trong 2 năm 2006 – 2007, thị phần của khối này giảm mạnh là do các NHTMQD không tập trung nhiều vào tăng trưởng hoạt động mà tập trung vào việc tăng cường năng lực tài chính cũng như quản lý chất lượng tín dụng để chuẩn bị cho cổ phần hóa.
Đặc biệt trong năm 2008, thị phần huy động vốn của khối ngân hàng này ngày càng giảm. Nguyên nhân chính là do trong cuộc chạy đua lãi suất giành thị phần, lãi suất của các NHTMQD vẫn kém “nhạy cảm” hơn lãi suất của khối NHTMCP và NHNN&LD về mức lãi suất, kỳ hạn gửi tiền cũng như các hình thức khuyến mãi, dự thưởng. Do đó, nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư không chảy mạnh vào khối ngân hàng này.