chương 1 cũng giới thiệu phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu để giải quyết mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng tác giả trình bày những đóng góp của luận án về mặt lý thuyết, thực tiễn và kết cấu của luận án. Tính cấp thiết Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đầu tư công (ĐTC) cho kết cấu hạ tầng khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân.
Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm chi phí hoặc chi phí thấp (Lê Thị Diễm Quỳnh, 2016). Có thể thấy ĐTC nhằm cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công chính yếu nhằm kết nối công dân và doanh nghiệp với các cơ hội kinh tế thông qua việc cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế qua đó có thể thúc đẩy tăng trưởng và cung cấp cơ sở hạ tầng phù hợp để thúc đẩy đầu tư tư nhân qua các kênh: i) Giảm chi phí đầu tư hạ tầng của khu vực tư nhân, nhờ đó, khu vực tư nhân tập trung nguồn lực đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, từ đó thúc đẩy tăng trưởng; ii) Đầu tư cơ sở hạ tầng có ngoại tác tích cực (nhà nước đầu tư tất cả các thành phần kinh tế hưởng lợi); iii) Đầu tư cơ sở hạ tầng cần huy động nguồn lực lớn và mang tính chất hàng hóa công nên cần sự tham gia của nhà nước để đảm bảo tính công bằng và phù hợp mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Các nghiên cứu định lượng trước đây chủ yếu tập trung phân tích tác động của ĐTC đến đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế qua mô hình kinh tế lượng. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ ĐTC có tác động tích cực thu hút đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của (Erden & Holcombe, 2006) cho rằng ĐTC kích thích đầu tư tư nhân trong các nền kinh tế đang phát triển.
(Foye, 2014) cho rằng chi tiêu công giúp xây dựng một môi trường kinh tế vĩ mô tốt cho tư nhân, là động -2- lực tăng trưởng và phát triển kinh tế chung. (Kalaipriya & Uthayakumar, 2019) tập trung vào mối quan hệ thực nghiệm giữa đầu tư tư nhân và đầu tư chính phủ sau khi tự do hóa nền kinh tế Sri Lanka, kết quả cho thấy tác động tích cực đáng kể của các biến số kinh tế được lựa chọn đối với đầu tư tư nhân. Mặt khác, các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy ĐTC có tác động chèn lấn đầu tư tư nhân như nghiên cứu (Cruz & Teixeira, 1999) đã cho kết luận, đầu tư tư nhân bị lấn át bởi ĐTC trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài các hệ số vector đồng kết hợp cho thấy hai biến này bổ sung cho nhau. (Ghani & Din, 2006) khẳng định sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào đầu tư tư nhân, còn ĐTC và tiêu dùng nhà nước ít có sự ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, ĐTC tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế liên quan đến kém hiệu quả của loại ĐTC. (Phetsavong & Ichihashi, 2012) phát hiện đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài là hai yếu tố có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong khi ĐTC lại cản trở, chèn lấn đầu tư tư nhân và làm hạn chế sự tăng trưởng kinh tế.(Makuyana & M Odhiambo, 2018) cho rằng tổng ĐTC vào cơ sở hạ tầng và phi hạ tầng chèn lấn đầu tư tư nhân trong ngắn hạn. Ở các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, theo đó đầu tư vào DNNN thường được tính vào ĐTC. Theo Luật Đầu tư công 2014 thì ĐTC là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (Quốc hội, 2014).
ĐTC không bao gồm nguồn vốn của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, tổng ĐTC và đầu tư cho DNNN được gọi chung là đầu tư nhà nước (ĐTNN). ĐTNN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư toàn xã hội và đóng vai trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trưởng của đầu tư nói chung. Cơ cấu ĐTNN vẫn được coi là có vấn đề ở chỗ là quá tập trung vào DNNN. Do vậy, có hiện tượng chèn ép đầu tư tư nhân và ít thu hút được các loại hình đầu tư khác.
Ngược lại, ĐTC có tác động thúc đẩy đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế. Theo (Knack & Keefer, 1995) chi tiêu chính phủ cho các hoạt động thực thi pháp luật -3- và trật tự sẽ tạo dựng môi trường kinh tế - xã hội ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, các chương trình chi tiêu của chính phủ cung cấp hàng hóa công có giá trị như quốc phòng, công nghệ, truyền thông, cơ sở hạ tầng và hàng hóa có ngoại ứng tích cực như y tế và giáo dục đều là những yếu tố cơ bản quyết định tăng trưởng kinh tế. Các tác giả trong nước như (Sử Đình Thành, 2011; Tô Trung Thành & Vũ Sỹ Cường, 2015; Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư & Lê Hoàng Phong, 2014) cho rằng tại Việt Nam đầu tư tư nhân và ĐTC đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động của đầu tư tư nhân là cao hơn so với ĐTC.
Điểm hạn chế của nghiên cứu trong nước là các tác giả sử dụng số liệu ĐTC bao gồm đầu tư của DNNN cho hoạt động sản xuất kinh doanh để đánh giá tác động của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế, do đó việc đánh giá hiệu quả riêng phần của ĐTC cho cơ sở hạ tầng và đầu tư cho DNNN chưa được làm rõ. Dù hiện nay còn tồn tại các quan điểm khác nhau về đầu tư và tăng trưởng cùng với mức độ can thiệp khác nhau của nhà nước, nhưng đa số các quan điểm đều cho rằng vai trò nhà nước là cung cấp các hàng hóa công cần thiết cho nền kinh tế phát triển như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội. Hay nói cách khác, chính phủ phải tăng cường ĐTC vào cơ sở hạ tầng để thúc đẩy thu hút đầu tư của tư nhân vào các ngành sản xuất. Việt Nam qua hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế và đã thu được những thành quả đáng khích lệ với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với nhiều nước trong khu vực và ổn định trong nhiều năm.
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, chính sách tài khóa được cải thiện (thu, chi ngân sách được cân đối phù hợp với qui mô nền kinh tế, tỷ lệ bội chi trong giới hạn cho phép) đã tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư và các tổ chức tài trợ quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và phục hồi kinh tế sau các cuộc khủng hoảng, tình hình kinh tế đất nước có những bước thăng trầm, chưa có những nghiên cứu đánh giá toàn diện vai trò của ĐTC tại Việt Nam. Như đã nêu, các nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau cũng cho kết quả khác nhau (ĐTC thúc đẩy hay chèn lấn đầu tư tư nhân). Các nghiên -4- cứu ở Việt Nam do hạn chế về nguồn số liệu nên gộp ĐTC vào ĐTNN (bao gồm ĐTC và đầu tư của DNNN) để đánh giá tác động đến đầu tư tư nhân và tăng trưởng là chưa đánh giá đúng vai trò của ĐTC.
Trong bối cảnh đó cần có nghiên cứu đầy đủ để trả lời cho các câu hỏi sau: Hiệu quả của ĐTC của Việt Nam thời gian qua như thế nào? Vai trò của ĐTC trong thu hút đầu tư tư nhân, tạo hiệu quả doanh nghiệp nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ra sao? Để trả lời cho các câu hỏi trên nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tác động của ĐTC đến đầu tư tư nhân, hiệu quả doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án. Tổng quan các nghiên cứu trước và khoảng trống nghiên cứu Nghiên cứu trước cho thấy tồn tại tác động trái chiều của ĐTC đến đầu tư tư nhân, của ĐTC đến hiệu quả doanh nghiệp và tăng trưởng tuỳ thuộc vào quốc gia, nhóm quốc gia, quy mô, chu kỳ của nền kinh tế, cụ thể như sau: Một là, các nghiên cứu tác động của ĐTC đến đầu tư tư nhân theo 02 hướng trái chiều. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng tỏ ĐTC có tác động tích cực thu hút đầu tư tư nhân. Nghiên cứu của (Erden & Holcombe, 2006) cho rằng ĐTC là có bổ sung (kích thích) cho đầu tư tư nhân.
Nghiên cứu của Zainah (2009) nhận thấy rằng ngân sách dành cho cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và thông tin liên lạc tác động tích cực lên tích lũy vốn tư nhân (hiệu ứng thúc đẩy). Nghiên cứu của (Hatano, 2010) cho rằng có hiệu ứng bổ trợ của ĐTC lên đầu tư tư nhân. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết giữa vốn đầu tư tư nhân và vốn ĐTC. Nghiên cứu của Kollamparambil & Nicolaou (2011) cho rằng đầu tư tư nhân có phản ứng tích cực với đầu tư tư nhân năm trước và tăng trưởng GDP thực.
Nghiên cứu của Foye (2014) cho thấy tầm quan trọng của chi tiêu vốn công trong việc xây dựng một môi trường kinh tế vĩ mô tốt cho tư nhân, là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế chung. Nghiên cứu của (Dreger & Reimers, 2014; Reimers, 2016) đã kết luận tích trữ vốn tư nhân và tích trữ vốn công là đồng liên kết, đầu tư tư nhân phản ứng với các cú sốc theo ĐTC ở cả dòng lưu chuyển vốn và tích trữ vốn. Nghiên cứu của (Kalaipriya & Uthayakumar, 2019) cho thấy tác động tích cực đáng kể của các biến số kinh tế được lựa chọn đối với đầu tư tư nhân. Nghiên cứu của (Marcos, 2019) -5- khẳng định tác động tích cực của ĐTC đối với đầu tư tư nhân.
Nghiên cứu của (Makuyana & M Odhiambo, 2019) cho thấy đầu tư tư nhân đóng góp nhiều hơn ĐTC vào tăng trưởng kinh tế, ĐTC vào cơ sở hạ tầng có xu hướng thu hút đầu tư tư nhân.