Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành công nghiệp dầu khí giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp trung bình từ 9% đến 11% tổng thu ngân sách nhà nước chung, chiếm từ 16,5% đến 17% tổng thu ngân sách Trung ương và đóng góp từ 10% đến 13% vào GDP cả nước hàng năm (ở giai đoạn trước năm 2015, tỷ trọng này từng đạt 20% - 25% thu ngân sách và 18% - 25% GDP). Mặc dù trữ lượng dầu thô xác minh của Việt Nam đạt khoảng 4,4 tỷ thùng (đứng đầu khu vực Đông Nam Á) và trữ lượng khí đạt 0,6 nghìn tỷ m³ (đứng thứ ba Đông Nam Á theo thống kê của British Petroleum), ngành khai thác đang đối mặt với sự suy giảm sản lượng tự nhiên khoảng 10% mỗi năm (tương đương hơn 2 triệu tấn/năm đến năm 2025) do các mỏ đã khai thác lâu năm và sự mất cân đối lớn giữa công tác gia tăng trữ lượng (4 triệu tấn) so với sản lượng khai thác (25 triệu tấn).

Bên cạnh các thách thức nội tại về vốn đầu tư và kỹ thuật thăm dò vùng nước sâu, các doanh nghiệp dầu khí chịu tác động mạnh mẽ từ sự bất ổn của giá dầu thô thế giới vốn phụ thuộc vào cán cân cung - cầu, quyết sách của khối OPEC+, các biến động địa chính trị toàn cầu và chu kỳ kinh tế vĩ mô. Nhằm làm rõ mức độ tác động của các biến động này đến sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, khóa luận tập trung giải quyết bài toán thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị trong ngành đã niêm yết.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của giá dầu cùng một số tác nhân nội sinh và biến số vĩ mô đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dầu khí.
  2. Đo lường, hệ thống hóa mức độ ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của giá dầu cùng các tác nhân kiểm soát tới các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu.
  3. Đề xuất các khuyến nghị, giải pháp quản trị tài chính và chính sách dựa trên các kết quả phân tích định lượng thực nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của biến động giá dầu thô WTI thế giới cùng các yếu tố nội sinh (đòn bẩy tài chính, quy mô tài sản, tăng trưởng doanh thu) và yếu tố ngoại sinh vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát CPI) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh (đo lường qua ROA và ROE) của các doanh nghiệp dầu khí.
  • Phạm vi không gian: 12 doanh nghiệp ngành dầu khí niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán Việt Nam gồm Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với 9 doanh nghiệp và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) với 3 doanh nghiệp.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 12 năm từ năm 2010 đến năm 2021 với dữ liệu chuỗi thời gian theo năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa các lý thuyết kinh tế kinh điển về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Adam Smith (đồng nhất hiệu quả với kết quả doanh thu), Alfred Marshall (tiếp cận theo tỷ lệ phần tăng thêm của kết quả so với chi phí bổ sung), Samuelson và Nordhaus (tối ưu hóa nguồn lực thỏa mãn nhu cầu xã hội) và quan điểm tài chính của Lesakova (2007) khi sử dụng các tỷ số sinh lời để phản ánh năng lực quản trị tài sản. Hai chỉ tiêu đại diện cho biến phụ thuộc được tính toán theo chuẩn mực tài chính:

  • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: $\text{ROA} = \frac{\text{Lợi nhuận sau thuế}}{\text{Tổng tài sản}}$
  • Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu: $\text{ROE} = \frac{\text{Lợi nhuận sau thuế}}{\text{Vốn chủ sở hữu}}$

Cơ chế truyền dẫn biến động giá dầu đến giá trị doanh nghiệp được giải thích thông qua mô hình dòng tiền chiết khấu của Huang và cộng sự (1996): đối với đơn vị tiêu thụ dầu ròng, giá dầu tăng làm tăng chi phí đầu vào, giảm dòng tiền và gia tăng lạm phát kỳ vọng; ngược lại, đối với đơn vị sản xuất dầu ròng, giá dầu tăng kích thích tăng doanh thu và mở rộng biên lợi nhuận. Bên cạnh đó, tác giả liên hệ với chuỗi giá trị ngành dầu khí gồm ba phân khúc: thượng nguồn (thăm dò, khai thác, dịch vụ khoan phụ thuộc thuận chiều trực tiếp vào giá dầu thô nhưng có độ trễ hợp đồng dịch vụ), trung nguồn (vận tải, tồn trữ) và hạ nguồn (lọc - hóa dầu, phân phối khí và sản phẩm dầu mỡ nhờn, nơi biên lợi nhuận lọc dầu thường tăng khi giá dầu thô giảm ngắn hạn do độ trễ điều chỉnh giá bán thành phẩm).

Khung pháp lý được viện dẫn gồm Luật Dầu khí năm 1993, Nghị định số 95/2015/NĐ-CP (quy định về an toàn kỹ thuật, cung ứng hàng hóa - dịch vụ dầu khí và nghĩa vụ bán khí thiên nhiên tại thị trường nội địa), các cam kết mở cửa đầu tư E&P trong hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như CPTPP và các hiệp định nội khối ASEAN, cùng Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 01) về xác định nợ phải trả và doanh thu, chi phí.

Phương pháp nghiên cứu định lượng áp dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng (panel data) trên cỡ mẫu cân đối gồm 144 quan sát (12 công ty $\times$ 12 năm). Quy trình ước lượng thực hiện lần lượt qua:

  1. Thống kê mô tả dữ liệu gốc và dữ liệu sau chuyển đổi logarit tự nhiên.
  2. Kiểm tra tương quan Pearson nhằm nhận diện sớm nguy cơ tự tương quan cao giữa các biến giải thích (ngưỡng chấp nhận $< 0,8$).
  3. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).
  4. Ước lượng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
  5. Thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM.
  6. Kiểm định các khuyết tật mô hình: kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier phát hiện phương sai sai số thay đổi và kiểm định Wooldridge phát hiện hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc một.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 144 báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất hàng năm của 12 doanh nghiệp niêm yết, cổng thông tin tài chính Vietstock, cơ sở dữ liệu kinh tế của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cho giá dầu WTI bình quân và Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho các chỉ số GDP, CPI của Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I. Cơ sở lý luận về ảnh hưởng giá dầu đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dầu khí

Chương này phác thảo bức tranh tổng quan về lịch sử, vị thế và cấu trúc kỹ thuật - kinh tế của ngành dầu khí Việt Nam do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chi phối. Tác giả phân tích cấu trúc chuỗi giá trị hoàn chỉnh (Hình 1.1) chia thành ba mắt xích liên kết hữu cơ: thượng nguồn (tìm kiếm, thăm dò, khai thác mỏ, cung cấp giàn khoan), trung nguồn (hệ thống đường ống dẫn khí, tàu chuyên dụng chở dầu thô và hóa chất) và hạ nguồn (các nhà máy đạm, nhà máy lọc hóa dầu, hệ thống bán lẻ xăng dầu, khí nén CNG, khí thấp áp).

Phần lịch sử biến động giá dầu thế giới điểm lại các cuộc khủng hoảng năng lượng lớn: các cú sốc năm 1973, 1979; biến cố chiến tranh vùng Vịnh năm 1990; giai đoạn giá dầu tạo đáy 18 USD/tấn năm 1998 buộc OPEC cắt giảm sản lượng; đợt leo thang đỉnh điểm đạt mức kỷ lục 145 USD/thùng vào năm 2008 trước khi khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ; và các giai đoạn biến động giai đoạn 2010 - 2021 (Hình 1.2).

Tác giả lập danh mục mẫu gồm 12 doanh nghiệp niêm yết (Bảng 1.1) kèm phân tích đặc thù vận hành:

  • DPM: Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (HOSE, niêm yết 2007)
  • GAS: Tổng Công ty Khí Việt Nam (HOSE, niêm yết 2012)
  • PVS: Tổng CTCP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (HNX, niêm yết 2007)
  • PJT: CTCP Vận tải Xăng dầu đường thủy Petrolimex (HOSE, niêm yết 2006)
  • PVT: Tổng CTCP Vận tải Dầu khí (HOSE, niêm yết 2007)
  • PVD: Tổng CTCP Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (HOSE, niêm yết 2006)
  • PPY: CTCP Xăng dầu Dầu khí Phú Yên (HNX, niêm yết 2016)
  • PGC: Tổng Công ty Gas Petrolimex (HOSE, niêm yết 2006)
  • PET: Tổng CTCP Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí - PETROSETCO (HOSE, niêm yết 2007)
  • CNG: CTCP CNG Việt Nam (HOSE, niêm yết 2011)
  • PLC: CTCP Hóa dầu Petrolimex (HNX, niêm yết 2006)
  • PGD: CTCP Phân phối Khí thấp áp Dầu khí Việt Nam (HOSE, niêm yết 2009)

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các nhân tố nội sinh (lợi nhuận, tiền và tương đương tiền, tổng nợ, tổng tài sản, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu) và ngoại sinh (tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát đo bằng CPI, tỷ giá hối đoái). Chương I tổng thuật các nghiên cứu trong nước (Trần Hữu Nghị, 2010; Vũ Thị Ngọc Lan & Nguyễn Tiến Dũng, 2013; Quan Minh Nhựt & Lý Thị Phương Thảo, 2014; Hoàng Tùng, 2016; Nguyễn Tuyết Khánh, 2016; Bùi Bảo Ngọc Đông, 2016; Nguyễn Linh Chi, 2021) và nghiên cứu quốc tế (Driesprong et al., 2008; Nandha & Faff, 2008; Henriques & Sadorsky, 2008; Hammoudeh et al., 2004; Gogineni, 2010; Ajit & Han, 2011; Juan et al., 2014; Al-Mudhaf & Goodwin, 1993; Rahman & Mustafa, 2018). Từ đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: tại Việt Nam thời điểm đó còn thiếu vắng các nghiên cứu định lượng chính thức tiếp cận tác động của giá dầu thô thế giới ở cấp độ vi mô doanh nghiệp trên dữ liệu bảng cập nhật đến năm 2021, thay vì chỉ đo lường ở quy mô toàn chỉ số thị trường chứng khoán.

Chương II. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác lập quy trình nghiên cứu 4 bước (Nghiên cứu tài liệu $\rightarrow$ Lựa chọn biến số $\rightarrow$ Xử lý dữ liệu và khắc phục khuyết tật $\rightarrow$ Kết luận và khuyến nghị). Tác giả thiết lập 2 phương trình hồi quy tuyến tính đa biến:

Mô hình 1: $$\text{ROA}{i,t} = \beta_0 + \beta_1 \text{GIADWTI}{i,t} + \beta_2 \text{LEV}{i,t} + \beta_3 \text{SIZE}{i,t} + \beta_4 \text{GROW}{i,t} + \beta_5 \text{GDP}{i,t} + \beta_6 \text{CPI}{i,t} + \varepsilon{i,t}$$

Mô hình 2: $$\text{ROE}{i,t} = \beta_0 + \beta_1 \text{GIADWTI}{i,t} + \beta_2 \text{LEV}{i,t} + \beta_3 \text{SIZE}{i,t} + \beta_4 \text{GROW}{i,t} + \beta_5 \text{GDP}{i,t} + \beta_6 \text{CPI}{i,t} + \varepsilon{i,t}$$

Bảng mô tả các biến nghiên cứu (Bảng 2.1):

Tên biến Ký hiệu Vai trò Đo lường / Công thức Nguồn dữ liệu
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA Biến phụ thuộc $\ln(\text{ROA})$ BCTC kiểm toán
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE Biến phụ thuộc $\ln(\text{ROE})$ BCTC kiểm toán
Giá dầu thô WTI GIADWTI Biến độc lập Logarit tự nhiên của giá dầu WTI bình quân năm FED
Đòn bẩy tài chính LEV Biến kiểm soát $\frac{\text{Tổng nợ}}{\text{Tổng tài sản}}$ BCTC kiểm toán
Quy mô doanh nghiệp SIZE Biến kiểm soát Logarit tự nhiên của Tổng tài sản: $\ln(\text{Tổng tài sản})$ BCTC kiểm toán
Tốc độ tăng trưởng doanh thu GROW Biến kiểm soát Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần so với năm trước BCTC kiểm toán
Tổng sản phẩm quốc nội GDP Biến kiểm soát Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm (%) World Bank
Chỉ số giá tiêu dùng CPI Biến kiểm soát Tỷ lệ thay đổi chỉ số CPI hàng năm (%) World Bank

Chương III. Kết quả nghiên cứu

Tác giả trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả (Bảng 3.1 & 3.2):

  • Giá dầu thô WTI bình quân giai đoạn 2010 - 2021 đạt 69,79 USD/thùng, biên độ dao động từ mức thấp nhất 38,62 USD/thùng đến đỉnh điểm 97,98 USD/thùng.
  • Tỷ suất ROA trung bình toàn ngành là 8,27% (độ lệch chuẩn 7,18%), giá trị cao nhất đạt 39,48% và thấp nhất xấp xỉ 0,18%.
  • Tỷ suất ROE đạt giá trị cao nhất 68,73%, thấp nhất xấp xỉ 0,07%.
  • Tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROW) bình quân đạt 13,66% (độ lệch chuẩn xấp xỉ 0,33), dao động mạnh từ mức âm sâu -74,09% đến giá trị dương cao nhất.
  • Đòn bẩy tài chính (LEV) có giá trị trung bình là 1,2799, phản ánh mức độ phụ thuộc nợ vay đáng kể của các đơn vị.
  • Quy mô tài sản sau logarit (SIZE) đạt giá trị trung bình 22,085, biến thiên từ 18,656 đến trên 25.
  • Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn này đạt 5,46% (thấp nhất 2,08%), lạm phát CPI trung bình đạt 5,49% (biến động từ 0,63% đến 18,68%).

Kiểm định tự tương quan Correlation (Bảng 3.3) xác nhận hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập và biến kiểm soát đều nằm dưới ngưỡng 0,80. Mặc dù hệ số tương quan giữa hai biến phụ thuộc ROA và ROE đạt mức 86,7% (0,867) do tính chất cấu trúc tài chính liên thông giữa tổng tài sản và vốn chủ sở hữu, điều này hoàn toàn hợp lệ vì hai biến này được kiểm định trong hai phương trình độc lập.

Kiểm định đa cộng tuyến (Bảng 3.4) cho thấy hệ số phóng đại phương sai (VIF) của tất cả các biến đều nhỏ hơn 2 (biến CPI có VIF cao nhất là 1,30; 1/VIF tương ứng là 0,769), khẳng định không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích.

So sánh mô hình FEM và REM:

  • Đối với mô hình ROA (Bảng 3.5): Giá trị kiểm định Hausman (Bảng 3.7) có Prob > chi2 = 0,6876 ($> 0,05$), không có cơ sở bác bỏ giả thuyết $H_0$, do đó mô hình REM được lựa chọn. Trong mô hình REM, giá dầu WTI (GIADWTI), tăng trưởng doanh thu (GROW) và CPI có tác động cùng chiều mang ý nghĩa thống kê ở mức 5% ($P\text{-value} < 0,05$); đòn bẩy tài chính (LEV) có hệ số âm và tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê; quy mô doanh nghiệp (SIZE) và GDP không có ý nghĩa thống kê ($P\text{-value} > 0,05$).
  • Đối với mô hình ROE (Bảng 3.6): Giá trị kiểm định Hausman (Bảng 3.8) có Prob > chi2 = 0,3033 ($> 0,05$), lựa chọn mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Kết quả mô hình REM khẳng định giá dầu WTI (GIADWTI), tăng trưởng doanh thu (GROW) và tăng trưởng GDP có mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê ($P\text{-value} < 0,05$); trong khi đòn bẩy tài chính (LEV), quy mô (SIZE) và CPI không đạt mức ý nghĩa thống kê 5%.

Kiểm định khuyết tật mô hình REM:

  • Kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian: Giá trị Prob > chibar2 = 0,0000 ($< 0,05$) cho cả hai phương trình ROA và ROE, bác bỏ giả thuyết $H_0$, xác nhận cả hai mô hình đều xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
  • Kiểm định Wooldridge cho tương quan chuỗi: Với mô hình ROA, $P\text{-value} = 0,0000 < 0,05$, xác nhận tồn tại hiện tượng tự tương quan chuỗi; với mô hình ROE, $P\text{-value} = 0,05$, xác nhận mô hình không vi phạm hiện tượng tự tương quan.

Bảng tổng hợp chiều hướng tác động của các biến (Bảng 3.9):

Biến số Chiều hướng tác động tới ROA Chiều hướng tác động tới ROE Ý nghĩa thống kê trong mô hình lựa chọn (REM)
Giá dầu thô WTI (GIADWTI) $(+)$ $(+)$ Có ý nghĩa thống kê ở mức 5% trên cả hai mô hình
Đòn bẩy tài chính (LEV) $(-)$ Không tác động Tác động ngược chiều có ý nghĩa tới ROA ($P < 0,05$)
Tăng trưởng doanh thu (GROW) $(+)$ $(+)$ Có ý nghĩa thống kê thuận chiều ở mức 5%
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) Không tác động Không tác động Không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$)
Tăng trưởng kinh tế (GDP) Không tác động $(+)$ Tác động thuận chiều có ý nghĩa tới ROE ($P < 0,05$)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) $(+)$ Không tác động Tác động thuận chiều có ý nghĩa tới ROA ($P < 0,05$)

Chương IV. Kết luận và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả thực nghiệm, tác giả tổng kết các phát hiện và định hình ba nhóm khuyến nghị thực tiễn:

  1. Đối với doanh nghiệp dầu khí niêm yết: Cần tái cấu trúc danh mục nợ vay nhằm giảm thiểu đòn bẩy tài chính (LEV), bởi hệ số nợ cao trực tiếp bào mòn tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) khi chi phí lãi vay gia tăng trong các giai đoạn kinh doanh gặp khó khăn. Doanh nghiệp cần chủ động sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro giá hàng hóa (hedging), xây dựng kịch bản dự báo biến động giá dầu thế giới để điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh và quản trị tồn kho linh hoạt.
  2. Đối với công tác điều hành vĩ mô: Nhà nước và Bộ Công Thương cần hoàn thiện cơ chế điều hành giá xăng dầu trong nước tiệm cận quy luật thị trường thế giới nhằm giảm thiểu độ trễ chính sách, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hạ nguồn bảo toàn biên lợi nhuận.
  3. Đối với nhà đầu tư chứng khoán: Biến động giá dầu WTI và tốc độ tăng trưởng doanh thu là hai chỉ báo quan trọng có tương quan dương mạnh nhất tới cả ROA và ROE, do đó cần được xem là tiêu chí trọng tâm khi định giá và lựa chọn cổ phiếu dầu khí trong các giai đoạn chu kỳ kinh tế mở rộng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các kết quả thực nghiệm định lượng cụ thể:

  • Xác nhận giá dầu WTI bình quân năm tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê tới cả hai thước đo hiệu quả kinh doanh cốt lõi là ROA và ROE của 12 doanh nghiệp dầu khí niêm yết giai đoạn 2010 - 2021.
  • Tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROW) thể hiện tác động tích cực đồng nhất lên cả ROA và ROE.
  • Đòn bẩy tài chính (LEV) tác động tiêu cực rõ rệt tới ROA (hệ số mang dấu âm), phản ánh áp lực nợ vay làm suy giảm hiệu quả sử dụng tổng tài sản của các công ty trong ngành.
  • Các nhân tố vĩ mô có sự phân hóa: Tăng trưởng GDP tác động thuận chiều tới ROE nhưng không tác động tới ROA; lạm phát CPI tác động cùng chiều tới ROA nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với ROE. Biến quy mô tài sản (SIZE) hoàn toàn không thể hiện ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê lên hiệu quả kinh doanh của nhóm doanh nghiệp dầu khí khảo sát.

Đóng góp so với nghiên cứu trước: Công trình lấp đầy khoảng trống thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Việt Nam bằng cách đo lường trực tiếp tác động của giá dầu WTI lên các chỉ số tài chính kế toán vi mô (ROA, ROE) trên dữ liệu bảng cân đối 12 năm (2010 - 2021). Nghiên cứu khắc phục hạn chế của các đề tài trước đây vốn chỉ tập trung vào tỷ suất sinh lời thị trường của cổ phiếu (như Trần Hữu Nghị, 2010) hoặc các khung mẫu ngắn hạn giai đoạn 2010 - 2014, 2009 - 2020. Đồng thời, nghiên cứu phân tích rõ nét đặc thù vận hành của từng phân khúc chuỗi giá trị dầu khí nội địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Mẫu khảo sát giới hạn trong phạm vi 12 doanh nghiệp dầu khí đã niêm yết trên HOSE và HNX; các đơn vị chưa niêm yết hoặc công ty liên doanh chưa được đưa vào mô hình do thiếu dữ liệu công khai đồng bộ.
  • Dữ liệu thu thập theo tần suất năm (144 quan sát) nên chưa phản ánh được các biến động giá dầu mang tính biến thiên cao theo ngày hoặc tháng.
  • Do quy mô thị trường dầu khí Việt Nam tương đối nhỏ và không thể tác động ngược lại giá dầu thế giới, nghiên cứu chỉ áp dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng tĩnh thay vì áp dụng mô hình véc-tơ tự hồi quy (VAR) như một số nghiên cứu tại các quốc gia xuất khẩu dầu lớn.
  • Mô hình REM vẫn tồn tại khuyết tật phương sai sai số thay đổi (ở cả ROA, ROE) và hiện tượng tự tương quan chuỗi (ở mô hình ROA) chưa được ước lượng xử lý triệt để bằng các phương pháp nâng cao như FGLS hay GMM.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các doanh nghiệp năng lượng tái tạo hoặc các đơn vị dầu khí chưa niêm yết khi cơ sở dữ liệu cho phép.
  • Gia tăng tần suất dữ liệu sang chuỗi thời gian theo quý hoặc tháng kết hợp phân tách chuyên sâu mô hình hồi quy riêng biệt cho từng nhóm phân khúc (thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn).
  • Ứng dụng các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động (GMM) hoặc bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để kiểm soát và khắc phục triệt để các khuyết tật về tự tương quan và phương sai thay đổi.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế đầu tư, Quản trị kinh doanh và Phân tích tài chính doanh nghiệp khi thực hiện các đề tài liên quan đến rủi ro thị trường hàng hóa và cấu trúc tài chính.

Những nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Quy trình kinh tế lượng thực hành trên phần mềm Stata 16 với đầy đủ các bước kiểm định chẩn đoán (Correlation, VIF, FEM/REM, Hausman, Breusch-Pagan Lagrangian, Wooldridge).
  • Bức tranh hệ thống hóa về chuỗi giá trị ba phân khúc của ngành dầu khí Việt Nam cùng danh mục dữ liệu thực tế của 12 doanh nghiệp niêm yết đầu ngành trên HOSE và HNX.
  • Khung lý thuyết tổng hợp về các kênh truyền dẫn cú sốc giá dầu thô vào cấu trúc tài chính của doanh nghiệp tiêu thụ và sản xuất dầu mỏ.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng loại giá dầu nào làm biến độc lập và mức giá bình quân trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Nghiên cứu sử dụng giá trị bình quân theo năm của giá dầu thô WTI (West Texas Intermediate) được lấy từ nguồn dữ liệu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Trong giai đoạn 2010 - 2021, giá dầu WTI trung bình đạt 69,79 USD/thùng, biến động trong khoảng từ 38,62 USD/thùng đến 97,98 USD/thùng.

Vì sao mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) được lựa chọn thay vì mô hình tác động cố định (FEM)?
Tác giả đã thực hiện kiểm định Hausman cho cả hai phương trình hồi quy. Kết quả kiểm định cho thấy giá trị Prob > chi2 đối với mô hình ROA là 0,6876 và đối với mô hình ROE là 0,3033. Cả hai giá trị này đều lớn hơn mức ý nghĩa 0,05, do đó không có cơ sở bác bỏ giả thuyết $H_0$ (giả thuyết cho rằng mô hình REM là phù hợp), dẫn đến việc lựa chọn mô hình REM cho cả hai biến phụ thuộc.

Đòn bẩy tài chính (LEV) có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong mẫu?
Trong mô hình REM với biến phụ thuộc là ROA, hệ số của đòn bẩy tài chính mang dấu âm (-0,02498) và có ý nghĩa thống kê ở mức 5% ($P\text{-value} < 0,05$), chứng minh việc gia tăng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản làm giảm tỷ suất sinh lời trên tài sản. Tuy nhiên, trong mô hình đối với ROE, đòn bẩy tài chính không có ý nghĩa thống kê ($P\text{-value} > 0,05$).

Mô hình hồi quy của khóa luận gặp phải những khuyết tật kinh tế lượng nào qua các kiểm định chẩn đoán?
Kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian cho kết quả $P\text{-value} = 0,0000$ trên cả hai mô hình ROA và ROE, cho thấy mô hình tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Ngoài ra, kiểm định Wooldridge cho thấy mô hình ROA vi phạm giả định không có tự tương quan chuỗi ($P\text{-value} = 0,0000 < 0,05$), trong khi mô hình ROE không xuất hiện hiện tượng tự tương quan chuỗi ($P\text{-value} = 0,05$).

Mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu doanh nghiệp và thuộc những sàn giao dịch chứng khoán nào?
Mẫu nghiên cứu gồm 12 doanh nghiệp dầu khí đáp ứng đầy đủ dữ liệu trong giai đoạn 2010 - 2021 (tương ứng 144 quan sát), trong đó có 9 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE (DPM, GAS, PJT, PVT, PVD, PGC, PET, CNG, PGD) và 3 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX (PVS, PPY, PLC).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phan Châu Anh đã thực hiện phân tích định lượng tác động của biến động giá dầu WTI cùng các biến số tài chính vi mô và vĩ mô đến hiệu quả kinh doanh của 12 doanh nghiệp dầu khí niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2021. Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng và kiểm định kinh tế lượng trên Stata 16, công trình khẳng định giá dầu thế giới và tốc độ tăng trưởng doanh thu có tác động cùng chiều rõ rệt đến cả ROA và ROE, trong khi đòn bẩy tài chính tạo ra áp lực tiêu cực đáng kể lên ROA. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng hỗ trợ các nhà quản trị doanh nghiệp dầu khí trong việc kiểm soát tỷ lệ nợ vay, xây dựng công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá nguyên liệu và hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định phân bổ vốn phù hợp.