Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 1.6 Ý nghĩa nghiên cứu: Đóng góp chính của bài viết này dựa trên mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã thu hút được sự quan tâm đáng kể và nhận được xu hướng nghiên cứu những thập niên gần đây khi xu hướng tự do hóa trong đó có tự do dòng vốn được mở rộng, với sự lan truyền của hội nhập thị trường tài chính. Vì vậy, không giống như các nghiên cứu trước đó, bài viết này khám phá sự tiến triển mối quan hệ trong cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát từ quan điểm của sự phát triển tài chính, hiện vẫn còn khan hiếm. Hơn nữa, so sánh hệ thống và toàn diện trước tiên được thực hiện trên sự thay đổi của hoạt động kinh tế tổng thể do sự phát triển tài chính, dựa trên mô hình VECM được áp dụng để tập trung vào ảnh hưởng của mức độ tài chính đến sự phát triển của mối quan hệ trên quan sát theo thời gian.
Từ những hiểu biết về mối quan hệ về phát triển tài chính và các yếu tố vĩ mô tại thực nghiệm Việt Nam – quốc gia có tăng trưởng cao trong xu hướng chuyển dịch từ Tây sang Đông của nền kinh tế thế giới tại khu vực Đông Á, các nhà làm chính sách lưu ý tới yếu tố phát triển tài chính trong quản trị các yếu tố vĩ mô đến mục tiêu. 7 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan lý thuyết: 2.1 Cơ sở lý luận về phát triển tài chính1: Ngành tài chính là tập hợp các tổ chức, công cụ, thị trường, cũng như khung pháp lý và quy định cho phép giao dịch được thực hiện bằng cách mở rộng tín dụng. Về cơ bản, phát triển của khu vực tài chính là khắc phục "chi phí" phát sinh trong hệ thống tài chính. Quá trình giảm chi phí thu thập thông tin, thực thi hợp đồng và giao dịch dẫn đến sự xuất hiện của các hợp đồng tài chính, thị trường và các bên trung gian.
Các kiểu và các cách thức phối hợp khác nhau của thông tin, quá trình thực thi và chi phí giao dịch kết hợp với các hệ thống luật pháp, quy định và luật thuế khác nhau đã thúc đẩy các hợp đồng, thị trường và trung gian khác biệt giữa các quốc gia và trong suốt quá trình lịch sử. Phát triển tài chính được biểu hiện thông qua sự phát triển của hệ thống tài chính, bao gồm các Tổ chức tài chính, Thị trường tài chính, Công cụ tài chính và Cơ sở hạ tầng tài chính. Các thước đo phát triển tài chính Một thước đo tốt về phát triển tài chính là rất quan trọng để đánh giá sự phát triển của khu vực tài chính và hiểu được tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, tuy nhiên, rất khó để đo lường sự phát triển về tài chính vì nó là một khái niệm rộng lớn và có nhiều khía cạnh.
Công việc thực nghiệm được thực hiện cho đến nay thường dựa trên các chỉ số định lượng chuẩn, sẵn có cho một loạt thời gian dài trong một phạm vi rộng các quốc gia. Tuy nhiên, do khu vực tài chính của một quốc gia bao gồm nhiều tổ chức tài chính, thị trường và sản phẩm, các biện pháp này là ước tính sơ bộ và không nắm bắt được mọi khía cạnh của phát triển tài chính. 1 Nguồn: http://www.org/en/publication/gfdr/background/financial-development 8 Cơ sở dữ liệu phát triển tài chính toàn cầu của Ngân hàng Thế giới đã xây dựng một khuôn khổ khái niệm 4x2 toàn diện nhưng tương đối đơn giản để đo lường sự phát triển tài chính trên toàn thế giới. Khung này xác định bốn bộ biến số mô tả một hệ thống tài chính hoạt động tốt: độ sâu, khả năng tiếp cận, hiệu quả và sự ổn định tài chính.
Bốn chiều dùng mô tả này sau đó được sử dụng đo hai thành phần chính trong khu vực tài chính, đó là các định chế tài chính và thị trường tài chính. Đơn cử cho mỗi bộ biến số như: Phản ánh độ sâu của tài chính bao gồm: tín dụng khu vực tư nhân đối với GDP (FD), Mức vốn hóa thị trường chứng khoán đối với GDP,. Phản ánh khả năng tiếp cận tài chính ta có: % người có tài khoản ngân hàng, tỷ lệ nợ cá nhân đối với tổng nợ trong nước,. Phản ánh tính hiệu quả, biến đo lường có thể được sử dụng đó là lãi suất ròng hay tỷ lệ doanh thu đối với thị trường chứng khoán,.
Phản ánh sự ổn định tài chính ta có các chỉ số như: tỷ lệ an toàn vốn hay độ biến động của chỉ số giá chứng khoán, chỉ số trái phiếu chính phủ,. Các nhà nghiên cứu trên thực tế tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia để linh hoạt lựa chọn thước đo phù hợp nhất.2 Tình hình phát triển của thị trường tài chính: Hiện tại, có nhiều loại hình tổ chức tài chính và tài sản khác nhau ở Mỹ, hệ thống tài chính trong đó có cấu trúc trưởng thành, chức năng lành mạnh và quy mô lớn. Quy mô tài sản tài chính đạt đến 97 nghìn tỷ vào năm 2014, gấp gần tám lần so với năm 1991. Nhưng sau cuộc khủng hoảng tài chính, tốc độ tăng trưởng bắt đầu để giảm, và thậm chí xuất hiện khá tiêu cực trong năm 2011, có thể được thể hiện trong Hình 4.
Cụ thể, không quan trọng đến vấn đề phát hành và lưu hành chứng khoán hoặc trong khía cạnh năng lực thị trường và mức độ phát triển, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã trở nên trưởng thành và hoàn hảo thông qua sự phát triển của hơn 200 năm. Ví dụ, vốn hóa thị trường đã tăng từ 4 nghìn tỷ vào năm 1991 lên 26 nghìn tỷ trong năm 2014 mặc dù trải qua rất nhiều thăng 9 trầm. Hơn nữa, thị trường trái phiếu thật sự rất lớn và mức vốn hóa của tất cả các loại chứng khoán nợ chưa thanh toán tính đến cuối năm 2014 là 39 nghìn tỷ. Ngoài ra, hưởng lợi từ sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods và phát triển hơn nữa của công cuộc cải tiến tài chính, thập kỷ qua đã chứng kiến sự bùng nổ của thị trường tài chính phái sinh, đã trở thành một phần không tách rời của thị trường tài chính.
Nguồn: Xiaolin Lu, Kun Guo, Zhi Dong & Xuan Wang (2016) Hình 2.1: Cấu trúc nền kinh tế giả tưởng của Mỹ từ năm 1991 đến năm 2014. Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Quy mô tài sản hệ thống tài chính năm 2016 tương đương 187.2 Là thị trường cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính giữ vai trò quan trọng trong khu vực tài chính. Tính đến cuối năm 2016, tổng nguồn vốn hệ thống tài chính cung ứng cho nền kinh tế tương đương 181.
Tuy nhiên, so sánh với độ sâu tài chính 3này của Việt Nam và các nước trong khu vực, nhìn chung là còn tương đối hạn chế. Về lãi suất, Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh các mức lãi suất với mục đích điều chỉnh mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, tăng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp. Bên 2 BÁO CÁO TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 2016 3 Độ sâu tài chính = (Tín dụng + Số dư trái phiếu + Vốn hóa TT cổ phiếu)/GDP. 10 cạnh đó, Ngân hàng nhà nước cũng linh hoạt điều hành tỷ giá và đảm bảo tính ổn định đối với thị trường ngoại hối, theo đúng mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ nhằm duy trì ổn định giá trị tiền đồng và lạm phát.
Thị trường chứng khoán (TTCK) chỉ mới hình thành và phát triển gần hai thập kỷ qua nhưng cũng đã có một khuôn khổ pháp lý, cơ cấu và quy mô thị trường khá đầy đủ cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế. TTCK diễn biến ngày càng tích cực, lọt vào “Top 5” thị trường có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á năm 2016 và được coi là thị trường cận biên với mức nâng hạn lên ‘thị trường mới nổi” của tổ chức xếp hạng thị trường MSCI (Morgan Stanley Capital International). Khảo sát cho thấy, trong những năm qua, quy mô của TTCK không ngừng tăng trưởng, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 43,2% GDP năm 2016 và 50,3% GDP vào tháng 3/2017, gấp trên 3 lần so với năm 2010 và trên 2000 lần so với năm 2000. Là sản phẩm gắn với chứng khoán và TTCK, thị trường chứng khoản phái sinh (TTCKPS) đã hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay trên thế giới.
Đến nay có trên 70 Sở giao dịch chứng khoán phái sinh khác nhau trên thế giới đã tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh. Tại Việt Nam, TTCKPS mặc dù chưa có tập trung nhưng các công cụ phái sinh ngoài chứng khoán như phái sinh hàng hóa và phái sinh tiền tệ đã được phép giao dịch (điển hình như: Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột, được thành lập năm 2006 với chức năng chính là thực hiện việc mua bán các loại cà phê sản xuất tại Việt Nam theo phương thức giao ngay và giao sau. Từ đầu năm 2011, Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam đã được thành lập, tổ chức giao dịch các hợp đồng tương lai trên tài sản cơ sở là cà phê, thép, cao su…. Do đó việc xây dựng, triển khai và phát triển TTCKPS trong năm 2017 tại Việt Nam góp phần đẩy mạnh tiến trình phát triển thị trường vốn và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế trong khu vực tài chính.
Sự ra đời TTCKPS là minh chứng cho việc từng bước hoàn thiện cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam, bao gồm thị trường huy động vốn và thị trường phân tán rủi ro, mở ra một cánh cửa mới với hàng loạt các sản phẩm và công cụ đầu tư mới, hấp dẫn phức tạp và đa dạng.3 Sự biến động của hoạt động kinh tế là kết quả của việc tài chính hóa kinh tế: Để thuận tiện cho việc mô tả dưới đây, chúng tôi giới thiệu một khái niệm "kinh tế giả tưởng" mới được Siwei Cheng đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999 (Cheng 1999). Theo định nghĩa của ông, nền kinh tế giả tưởng như trái ngược với nền kinh tế thực sự cho thấy các luật hoạt động của hệ thống giá trị tài sản, dựa trên giá trị vốn hóa được hỗ trợ bởi khái niệm hơn là chi phí và kỹ thuật.