PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN Lạm phát là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có tầm ảnh hưởng hết sức sâu rộng tới đời sống kinh tế - xã hội. Tại phần lớn các nước đang phát triển, tăng trưởng nhanh kết hợp với dòng vốn vào "nóng" thường theo kèm mức lạm phát cao và kéo dài, đồng nội tệ mất giá, thâm hụt ngân sách cao, gây ra những bất ổn vĩ mô, từ đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp và bất ổn chính trị - xã hội và đe dọa sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Thực tế cho thấy lạm phát cao không chỉ là vấn đề của riêng các nền kinh tế đang phát triển, mà điều này cũng từng diễn ra tại những quốc gia phát triển, điển hình là trường hợp lạm phát phi mã của CHLB Đức giai đoạn 1929 - 1933.
Sau thời gian dài chống chọi với tỷ lệ lạm phát cao cùng những hệ luỵ đi kèm thì vào những năm đầu thập kỷ 90, khuôn khổ chính sách tiền tệ (CSTT) lạm phát mục tiêu đầu tiên trên thế giới đã ra đời tại New Zealand, theo đó Chính phủ và Ngân hàng NHTW đặt ra mục tiêu lạm phát từng năm cũng như trong trung hạn và được quyền chủ động sử dụng công cụ CSTT như nghiệp vụ thị trường mở, công cụ lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc… để đạt được mục tiêu đó. Một CSTT theo đuổi lạm phát mục tiêu được coi là thành công nếu tỷ lệ lạm phát thực tế dao động quanh ngưỡng mục tiêu đã đề ra. Từ đó đến nay, đã có 27 quốc gia trên thế giới áp dụng đầy đủ khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu. Đa số các nước theo đuổi khuôn khổ này đã thành công trong việc duy trì mức lạm phát thấp, hợp lý với thực trạng nền kinh tế, cá biệt trong số đó có 3 nước là Cộng hòa Séc, Colombia và Hungary vẫn đang duy trì mục tiêu lạm phát ở mức 10%.
Một số quốc gia khác, tuy chỉ áp dụng một phần hoặc không áp dụng CSTT lạm phát mục tiêu, vẫn thừa nhận dự báo lạm phát là một trong những hoạt động ưu tiên hàng đầu của họ. Giống với đa số nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam từng trải qua thời kỳ lạm phát cao, điển hình như giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á (1997 – 1998), hậu gia nhập WTO (2004 – 2006) và khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007 – 2008). Điều đáng nói là, kể từ 2014 đến nay, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam giảm về mức thấp một cách bất thường. Trên thực tế, lạm phát ở mức thấp trong nhiều tình huống sẽ gây ra trở lực đối với phát triển tiềm năng kinh tế.
Nó thường kéo theo sức mua ì ạch, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, người tiêu dùng trì hoãn tiêu dùng để chờ đợi giá giảm sâu hơn, doanh nghiệp ngừng đầu tư và tuyển dụng để tiết kiệm chi phí. Ở một khía cạnh khác, lạm phát quá thấp sẽ làm bào mòn doanh thu thuế, cản trở lộ trình tăng lương, bào mòn lãi suất cận biên, dẫn đến làm tăng gánh nặng nợ đối với doanh nghiệp và Chính phủ. Diễn biến lạm phát khó lường như vậy đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động phân tích, dự báo và kiểm soát lạm phát tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, sao cho việc thực thi CSTT đạt hiệu quả cao, từ đó ổn định được giá trị đồng nội tệ trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và trước nguy cơ bất ổn từ kinh tế thế giới. Theo đó, quá trình điều hành CSTT cần phải được lượng hóa toàn 2 diện nhằm đảm bảo dự báo lạm phát và các nhân tố vĩ mô quan trọng được tiến hành thuận lợi và hiệu quả.
Mặt khác, theo lập luận của Bùi Quốc Dũng (2014), việc xây dựng, vận hành và phát triển các lớp mô hình kinh tế lượng dự báo lạm phát được xem là điều kiện tiên quyết để NHNN có thể áp dụng khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu thực thụ trong tương lai. Chỉ khi năng lực dự báo lạm phát của NHNN được nâng tầm cùng NHTW các nước, việc điều hành CSTT của NHNN hướng về lạm phát mục tiêu mới thực sự đạt hiệu quả như mong đợi. Với việc điểm qua một số tồn tại trong công tác dự báo lạm phát phục vụ hoạch định và điều hành CSTT, đồng thời nhận thấy hiện nay chưa có bất kỳ công trình khoa học nào đủ bao quát về xây dựng và phát triển hệ thống mô hình dự báo lạm phát dành cho Việt Nam (đa số nghiên cứu mới dừng ở việc tập trung khai thác vào từng mô hình riêng lẻ), việc triển khai đề tài luận án “Ứng dụng mô hình dự báo lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam” là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Sự phát triển các lý thuyết về lạm phát Các lý thuyết về lạm phát được hình thành từ khá sớm và không ngừng được hoàn thiện theo thời gian. Trong tác phẩm “The Wealth of Nations”, Smith (1776) lần đầu đề cập đến thuật ngữ “lạm phát” khi tác giả này phân biệt “giá thực” và “giá danh nghĩa”. Theo đó, giá thực của hàng hóa (giá trị) được định nghĩa là khả năng mua được hàng hóa đó, trong khi giá danh nghĩa (tiền) chỉ là chi phí được đo lường duy nhất bằng tiền (được giữ cố định theo giá trị của vàng hoặc một số kim loại quý khác). Theo quan điểm này, giá thực của hàng hóa dựa trên sức lao động, trong khi giá danh nghĩa lại biến động theo sự sẵn có của các kim loại quý và luật pháp của chế độ cai trị trong việc xác định kim loại quý.
Mặc dù các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng biến động về giá của hàng hóa có thể tác động bất lợi tới nền kinh tế một cách tạm thời (như tạo ra phân phối của cải một cách thất thường giữa các bên bị ràng buộc theo hợp đồng quy định giá tiền cố định); sau cùng, những biến động này chỉ đơn thuần là sự thay đổi quy mô mà theo đó giá trị được đo lường (Bryan, 1997). Quan điểm cho rằng sự thay đổi về lượng của tiền chỉ tác động đến duy nhất giá tiền của hàng hóa (chứ không phải giá trị) cũng được nhiều nhà kinh tế học cổ điển đồng tình. Quan điểm này được coi là nền tảng để phát triển các lý thuyết về lạm phát trong đầu thế kỷ 20, trong đó phải kể đến nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher nổi tiếng với học thuyết số lượng tiền tệ (Quantity Theory of Money). Lý thuyết của Fisher được phát triển trong một thời gian dài, đặc biệt khi mà cuộc tranh luận về tiền tệ diễn ra gay gắt trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1986 (Laidler, 2011).
Theo lý thuyết này, thời kỳ giảm phát thấp của Mỹ là do nguồn cung vàng thất bại trong việc duy trì sản lượng cần thiết để tương xứng với tốc độ tăng trưởng nhanh của tiền tệ, theo đó, tình trạng giảm phát cần có một giải pháp CSTT phù hợp, đó là gia tăng cung tiền. 3 Hình 1: Mối liên hệ giữa lượng tiền và mức giá Nguồn: Friedman (1989) Bất chấp những ý kiến trái chiều, Fisher (1911) tiếp tục phát triển lý thuyết này bằng đẳng thức nổi tiếng giữa lạm phát và tiền tệ như sau: PT = MV + M’V’ Trong đó: - P: mức giá chung - T: tổng lượng giao dịch bằng tiền - M: tổng lượng tiền giao dịch chính thức - V: tốc độ lưu thông tiền M - M’: tổng lượng tiền tín dụng - V’: tốc độ lưu thông tiền M’ Phương trình trên được thiết lập với các giả định: (i) P là biến phụ thuộc - chịu tác động bởi các biến độc lập khác; (ii) tỷ trọng M’/M là cố định; (iii) V và V’ không đổi và độc lập với sự thay đổi của M và M’; (iv) T không đổi và độc lập so với M, V, M’, V’; (v) cầu tiền tệ tương xứng với giá trị giao dịch; (vi) cung tiền là biến ngoại sinh không thay đổi; (vii) phương trình trên chỉ áp dụng trong phân tích ngắn hạn; và (viii) nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động (Ajuzie và cộng sự, 2008). Những giả định trên tiếp tục là chủ đề thu hút nhiều ý kiến bình luận của các nhà kinh tế học thời bấy giờ. Trong đó, những bình luận sắc sảo và có tầm ảnh hưởng nhất thuộc 4 về John Maynard Keynes (Higgins, 1978) khi ông cho rằng lý thuyết của Fisher quá cứng nhắc trong việc phân tích tác động của việc thay đổi cung tiền đối với tiêu dùng và mức giá chung trong nền kinh tế.
Trong tác phẩm “The General Theory of Employment, Interest and Money”, Keynes (1936) đã phát triển lý thuyết của riêng mình với tên gọi “Lý thuyết ưa chuộng thanh khoản” (Liquidity Preference Theory) nhằm bác bỏ kết luận của lý thuyết Fisher cho rằng việc tăng cung tiền sẽ dẫn đến giá tăng thêm một lượng tương ứng. Lý thuyết của Keynes có một số điểm khác biệt so với Fisher, cụ thể: (i) bác bỏ luận điểm cho rằng hộ gia đình và doanh nghiệp muốn nắm giữ một lượng cố định trong thu nhập của họ; (ii) động cơ nắm giữ tiền của hộ gia đình và doanh nghiệp phụ thuộc vào “tính ưa thích thanh khoản” của người nắm giữ tài sản; (iii) giả định tính ưa thích thanh khoản và cầu tiền tích luỹ có quan hệ ngược chiều với mức lãi suất hiện tại; (iv) tốc độ thu nhập về tiền có thể thay đổi theo thời gian do sự thay đổi trong kỳ vọng đối với biến động lãi suất trong tương lai; (v) cung tiền thay đổi có thể dẫn đến tốc độ lưu thông tiền thay đổi; (vi) giả định nền kinh tế toàn dụng lao động có thể bỏ qua trong phân tích kinh tế mà vẫn đảm bảo độ tin cậy của kết quả. Với những giả định trên, Keynes cho rằng phạm vi, trong đó tăng cung tiền dẫn đến tăng chi tiêu, phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong việc xác định tốc độ tăng thu nhập về tiền; tăng chi tiêu không dẫn đến tăng mức giá chung một cách tương xứng; và quan hệ giữa cung tiền và tăng giá là không đơn giản như theo lý thuyết của Fisher. Nhận định của Keynes được xem là sự bổ sung quan trọng vào sự phát triển lý thuyết về lạm phát trên thế giới, mà cho đến nay một số nhận định của ông vẫn đúng đắn và còn nguyên giá trị (Higgins, 1978).