mở đầu của luận văn. Chương 2 là chương tổng quan khung lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn ở trong và ngoài nước. Chương 3 bao gồm các nội dung về nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của luận văn. Chương 4 là kết quả nghiên cứu của tác giả và một số thảo luận, so sánh về kết quả nghiên cứu này với các nghiên cứu trước đây.
Cuối cùng, chương 5 là chương kết luận và một số hạn chế của luận văn. 4 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan lý thuyết về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ (CSTT) là một chuỗi các quy tắc và cách thức hành động của Ngân hàng Trung ương. Mỗi công cụ đều có những tác động nhất định đến nền kinh tế trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Trong số đó, lãi suất điều hành là công cụ được sử dụng khá phổ biến ở các quốc gia, kể cả các quốc gia đã và đang phát triển. Công cụ này sẽ tác động đến sản lượng và giá cả thông qua 4 kênh truyền dẫn chủ yếu là kênh lãi suất thị trường, kênh tín dụng, kênh giá tài sản và kênh tỷ giá hối đoái 2. Truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất Mishkin (2007) cho rằng CSTT mở rộng (tăng cung tiền) sẽ làm cho lãi suất thực trong nền kinh tế giảm đi, tức là chi phí cho việc sử dụng vốn vay trong nền kinh tế sẽ giảm xuống. Điều này sẽ làm cho đầu tư trong nền kinh tế gia tăng: các doanh nghiệp trong nền kinh tế gia tăng chi tiêu đầu tư mở rộng sản xuất trong khi người tiêu dùng cũng sẽ gia tăng các khoản chi tiêu về các khoản chi tiêu “đầu tư” của mình như nhà ở, các khoản đầu tư dài hạn… Khi đó, tổng cầu trong nền kinh tế sẽ gia tăng (đường cầu dịch chuyển qua phải), kéo theo sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế để đáp ứng sự gia tăng trong tổng cầu.
Tại đó, cân bằng trong nền kinh tế sẽ diễn ra ở một mức sản lượng cao hơn và với một mức giá cả cao hơn. Mishkin cũng cho rằng, ngay cả khi lãi suất danh nghĩa bằng 0, sự mở rộng trong cung tiền cũng có thể làm tăng mức giá kỳ vọng, kéo theo lạm phát tăng. Khi đó, lãi suất thực trong nền kinh tế sẽ giảm. Cơ chế dẫn truyền này được thể hiện như sau: Y tăng M tăng -> ir giảm -> I tăng Pe tăng -> 𝜋 𝑒 tăng Trong đó, M là cung tiền; Pe là mức giá kỳ vọng; 𝜋 𝑒 là lạm phát; ir là lãi suất thực; I là đầu tư; Y là sản lượng 5 2.
Truyền dẫn CSTT qua kênh tỷ giá hối đoái Theo Mishkin, việc mở rộng CSTT của Ngân hàng Trung ương (làm giảm lãi suất thực trong nước) sẽ làm cho các tài sản tính bằng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với các tài sản được tính bằng ngoại tệ. Khi đó, dòng vốn có xu hướng đi ra ngoài nền kinh tế, kéo theo việc đồng nội tệ sẽ bị mất giá tương đối so với đồng ngoại tệ. Lúc này, giá cả của hàng hóa trong nước sẽ trở nên rẻ hơn tương đối so với giá cả hàng hóa nước ngoài. Điều này giúp cho cán cân thương mại (xuất khẩu ròng) của quốc gia được cải thiện, tổng cầu trong nền kinh tế gia tăng và sẽ dẫn tới sự gia tăng trong sản lượng của quốc gia Ngoài ra, biến động tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của các tài sản được tính bằng ngoại tệ trên bảng cân đối kế toán của các chủ thể trong nền kinh tế như ngân hàng, Chính phủ, các cá nhân và doanh nghiệp… Điều này sẽ tác động đáng kể đến quyết định chi tiêu của các chủ thể này.
Ở các quốc gia theo chế độ tỷ giá hối đoái cố định, các chích sách tiền tệ có thể tác động tới tỷ giá thực thông qua những biến động giá cả của hàng hóa trong nước, dẫn tới biến động trong xuất khẩu ròng cũng như biến động của sản lượng trong nền kinh tế. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng trong truyền dẫn ở những quốc gia này là khá nhỏ và thời gian tác động cũng tương đối chậm. Ngược lại, ở những nền kinh tế nhỏ, mở với chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt, hiệu quả truyền dẫn là tương đối cao. Kênh tỷ giá được đánh giá là một trong những kênh truyền dẫn quan trọng nhất vì nó không chỉ tác động đến tổng cầu mà còn tác động đến tổng cung của nền kinh tế (biến động trong cán cân thương mại của quốc gia).
Vì vậy, các quốc gia này có xu hướng duy trì một biên độ dao động tỷ giá tương đối rộng. Cơ chế truyền dẫn qua kênh tỷ giá được tóm tắt như sau: CSTT mở rộng -> Dòng vốn có xu hướng ra khỏi nền kinh tế -> Tỷ giá thực giảm -> Xuất khẩu ròng tăng -> Sản lượng tăng 6 2. Truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng Kênh truyền dẫn tín dụng tập trung xem xét các vấn đề phát sinh do sự bất cân xứng thông tin và những ràng buộc “phí” trong các hợp đồng cho vay trên thị trường tài chính. Truyền dẫn qua kênh tín dụng bao gồm hai tác động chính đến các chủ thể trong nền kinh tế là kênh tín dụng ngân hàng và kênh bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp.
- Truyền dẫn qua kênh tín dụng ngân hàng sẽ tác động đến các trung gian tài chính – những chủ thể có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Đây là một kênh tài trợ đặc biệt quan trọng của doanh nghiệp nhỏ khi họ không thể tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Mức độ truyền dẫn qua kênh tín dụng ngân hàng sẽ phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của thị trường tài chính tại ở quốc gia, nhất là ở các nước có thị trường tư nhân kém phát triển hoặc chịu sự can thiệp của Chính phủ. Các CSTT mở rộng sẽ làm gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn tài trợ của các doanh nghiệp, từ đó khuyến khích các doanh nghiệp gia tăng đầu, kéo theo sự gia tăng của tổng cầu và sản lượng trong nền kinh tế.
Cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng như sau: CSTT mở rộng -> Lượng dư tiền gửi tăng -> Cho vay tăng -> Đầu tư tăng -> Sản lượng tăng - Truyền dẫn qua kênh bảng cân đối kế toán chủ yếu liên quan tới các lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức của các doanh nghiệp, dẫn tới những biến động trong giá trị thực của các doanh nghiệp. Theo Mishkin, giá trị ròng của các doanh nghiệp giảm sẽ hàm ý về sự suy giảm giá trị trong vốn đầu tư của chủ sở hữu. Khi đó, chủ sở hữu có thể sẽ đưa ra các quyết định đầu tư rủi ro hơn, đồng nghĩa với việc người các chủ nợ sẽ gánh chịu nhiều rủi ro hơn. Vì thế, các ngân hàng (chủ nợ) sẽ hạn chế đối với các khoản vay cho chi đầu tư của doanh nghiệp.
Điều này cho thấy, một CSTT thắt chặt làm giảm giá trị cổ phần và giá trị ròng của doanh nghiệp, dẫn tới những lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, kéo theo việc giảm cho vay đầu tư của các ngân hàng. Ngược lại, CSTT mở rộng làm gia tăng giá trị ròng và thanh khoản của doanh 7 nghiệp. Khi đó, thông tin về doanh nghiệp sẽ tốt hơn, đồng thời làm giảm vấn đề về lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, kéo theo sự gia tăng trong số lượng và quy mô của các khoản vay. Cơ chế truyền dẫn tiền tệ theo bảng cân đối kế toán được thể hiện như sau: CSTT mở rộng -> Giá trị doanh nghiệp tăng -> Lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức giảm -> Cho vay tăng -> Đầu tư tăng -> Sản lượng tăng.
Truyền dẫn qua kênh giá tài sản Truyền dẫn qua kênh giá cả tài sản được thể hiện thông qua giá trị cổ phần của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán. Sự truyền dẫn sẽ chịu ảnh hưởng chủ yếu theo hai tác động: Tác động từ đầu tư (lý thuyết của Tobin) và tác động từ hiệu ứng của cải đến tiêu dùng (theo Ando và Modigliani (1963)) - Tác động từ đầu tư: Tobin (1969) đã đưa ra giải thích về tác động của đầu tư dựa trên biến số q (giá trị thị trường của doanh nghiệp trên chi phí thay thế vốn). Một CSTT mở rộng làm giảm lãi suất thị trường và dòng tiền sẽ được chuyển vào các kênh đầu tư chứng khoán, dẫn tới sự gia tăng trong giá trị thị trường của doanh nghiệp. Vì q cao đồng nghĩa với việc mua sắm tài sản mới sẽ rẻ hơn so với giá trị thị trường tài sản nên doanh nghiệp sẽ phát hành thêm cổ phần mới để mua sắm thêm tài sản phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cơ chế truyền dẫn được mô tả như sau: CSTT mở rộng -> Thị giá chứng khoán tăng -> q tăng -> Đầu tư tăng -> Sản lượng tăng - Tác động từ hiệu ứng của cải: Ando và Modigliani (1963) đã đưa ra lý thuyết về mô hình vòng đời và tiết kiệm của con người. Các tác giả cho rằng của cải và sự giàu có của các cá nhân và hộ gia đình sẽ quyết định đến hành vi tiêu dùng của bản thân họ trong nền kinh tế. Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện một mở rộng sẽ làm tăng giá các loại tài sản tài chính. Lúc này, các cá nhân và hộ gia đình sẽ trở nên giàu 8 có hơn và họ sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn.
Điều này làm tăng tổng cầu và kéo theo sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế. Cơ chế dẫn truyền được thực hiện như sau: CSTT mở rộng -> Giá cổ phiếu tăng-> Của cải tăng -> Tiêu dùng tăng -> Sản lượng tăng 2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 2. Các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài Bjornland và Leitemo (2008) thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa các CSTT với nền kinh tế của Mỹ.
Với mẫu dữ liệu theo tháng từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 12 năm 2012, thông qua việc áp đặt các ràng buộc trong mô hình SVAR, các tác giả đã nhận thấy lãi suất (đại diện cho CSTT) có tác động ngược chiều với sự ổn định lạm phát và gia tăng sản lượng. Ngoài ra, các tác giả cũng nhận thấy có mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa thống kê giữa lãi suất và giá chứng khoán trên thị trường Mỹ.